Mục lục bài viết
Hiệp định Singapore–Australia: văn bản hợp nhất và ba phụ lục
Bản tiếng Việt này trình bày toàn bộ 54 trang của Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hòa Singapore và Chính phủ Khối Thịnh vượng chung Australia về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa trốn thuế đối với thuế thu nhập, ký tại Canberra ngày 11/02/1969. Hai Chính phủ mong muốn ký hiệp định cho các mục đích đó và thỏa thuận các điều dưới đây. Văn bản có hiệu lực ngày 04/06/1969; trang giới thiệu ghi ngày áp dụng 01/07/1969 tại Australia và 01/01/1969 tại Singapore. Điều 21 diễn đạt Singapore theo năm tính thuế bắt đầu từ 01/01/1970; cần giữ riêng cách ghi ngày và năm tính thuế của nguồn, không đồng nhất chúng thành cùng một kỳ.
Nghị định thư thứ nhất ký ngày 16/10/1989, có hiệu lực ngày 05/01/1990, nhìn chung áp dụng từ 01/07/1987 tại Australia và 01/01/1987 tại Singapore, trừ nơi quy định khác. Những thay đổi đã đưa vào thân hiệp định: dấu # chỉ điều mới, dấu * chỉ điều sửa. Phụ lục C giữ nguyên các điều trước sửa đổi để tham khảo lịch sử. Nghị định thư thứ hai ký ngày 08/09/2009, có hiệu lực và áp dụng từ 22/12/2010, thay Điều 19; toàn văn ở phụ lục B.
Singapore và Australia ký Công ước đa phương thực hiện biện pháp liên quan đến hiệp định thuế nhằm chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (MLI) ngày 07/06/2017; Singapore phê chuẩn ngày 21/12/2018, Australia ngày 26/09/2018. Lệnh thực hiện năm 2019 có hiệu lực 01/04/2019. Phụ lục A cho biết tác động của MLI đối với hiệp định; đọc các sửa đổi này cùng thân văn bản. Phụ lục A là thông tin về tác động, không phải lý do để bỏ các điều kiện và thời điểm áp dụng ghi ngay trong phụ lục.
Điều 1A: người được áp dụng
Hiệp định áp dụng đối với những người là đối tượng cư trú của một hoặc cả hai Nước ký kết.
Điều 1: các loại thuế
Các thuế hiện hành được áp dụng là: tại Australia, thuế thu nhập và thuế lợi tức tài nguyên dầu khí đối với dự án ngoài khơi, được đánh theo luật liên bang của Khối Thịnh vượng chung Australia; tại Singapore, thuế thu nhập. Trong hiệp định, các khoản đó lần lượt gọi là thuế Australia và thuế Singapore.
Hiệp định cũng áp dụng đối với mọi sắc thuế giống hoặc về cơ bản tương tự được đánh sau ngày ký, bổ sung cho hoặc thay thế các thuế hiện hành.
Điều 2(1): đủ các định nghĩa a–n
Trừ khi ngữ cảnh đòi hỏi khác: (a) Australia là Khối Thịnh vượng chung Australia; (b) khi dùng theo nghĩa địa lý, Australia gồm các lãnh thổ Norfolk Island, Christmas Island, Cocos (Keeling) Islands, Ashmore và Cartier Islands, mọi lãnh thổ sau ngày ký trở thành Lãnh thổ của Khối Thịnh vượng chung, và mọi khu vực ngoài giới hạn lãnh thổ của Khối Thịnh vượng chung cùng các Lãnh thổ nói trên mà tại từng thời điểm có luật của Khối Thịnh vượng chung, một bang hoặc bộ phận của Khối Thịnh vượng chung, hoặc Lãnh thổ nói trên, đang có hiệu lực về khai thác tài nguyên tự nhiên đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của thềm lục địa; (c) Singapore là Cộng hòa Singapore; (d) “một Nước ký kết” và “Nước ký kết kia” là Australia hoặc Singapore tùy ngữ cảnh.
(e) Thuế Australia và thuế Singapore là các thuế tương ứng nêu tại Điều 1; (f) công ty là pháp nhân hoặc thực thể khác được coi là công ty hay pháp nhân cho mục đích thuế; (g) cơ quan có thẩm quyền tại Australia là Commissioner of Taxation hoặc đại diện được ủy quyền; tại Singapore là Bộ trưởng Tài chính hoặc đại diện được ủy quyền; (h) doanh nghiệp bao gồm một hoạt động kinh doanh; (i) công ty Malaysia là công ty cư trú tại Malaysia cho mục đích thuế Malaysia; (j) người gồm cá nhân, công ty và bất kỳ tập hợp người nào khác, có hoặc không có tư cách pháp nhân.
(k) Lợi nhuận doanh nghiệp không gồm: (i) cổ tức, lãi và tiền bản quyền, trừ khi gắn thực tế với hoạt động kinh doanh qua cơ sở thường trú tại Nước kia; (ii) tiền thuê; (iii) thù lao dịch vụ cá nhân hoặc nghề nghiệp; (iv) lợi nhuận vận tải tàu biển hoặc máy bay; (v) tiền thu từ việc dùng hoặc quyền dùng phim điện ảnh, bản quyền văn học, sân khấu, âm nhạc hay nghệ thuật, phim hoặc băng video dùng cho truyền hình, băng dùng cho phát thanh; (vi) tiền thu từ cung cấp kiến thức, thông tin hoặc trợ giúp khoa học, kỹ thuật, công nghiệp hay thương mại, ngoài tiền bản quyền được Điều 10 điều chỉnh.
(l) Người cư trú cho mục đích thuế tại một nước là người cư trú tại đó theo luật thuế của nước ấy; (m) “thuế” là thuế Australia hoặc thuế Singapore tùy ngữ cảnh; (n) từ dùng ở số ít bao gồm số nhiều, và ngược lại.
Điều 2(2)–(4) và chú thích 1: giới hạn và giải thích dịch vụ
Khi xác định “thuế Australia” hoặc “thuế Singapore”, không tính khoản phạt hoặc tiền lãi được đánh theo luật về các loại thuế áp dụng hiệp định. Nếu theo một quy định của hiệp định, một Nước miễn hoặc giảm thuế cho một khoản thu nhập, còn theo luật Nước kia người nhận chỉ chịu thuế trên số được chuyển đến hoặc nhận tại Nước kia chứ không trên toàn bộ khoản đó, việc miễn hoặc giảm ở Nước thứ nhất chỉ áp dụng cho phần thu nhập thực sự được chuyển đến hoặc nhận ở Nước kia.
Trừ khi ngữ cảnh đòi hỏi khác, thuật ngữ không được hiệp định định nghĩa có nghĩa theo luật liên quan đến các thuế được hiệp định điều chỉnh của Nước áp dụng hiệp định, tại từng thời điểm.
Chú thích 1 ghi cách giải thích chung có hiệu lực từ 01/05/2018: việc loại dịch vụ cá nhân hoặc nghề nghiệp tại Điều 2(1)(k)(iii) chỉ đề cập thu nhập thuộc Điều 11. Dịch vụ cá nhân do cá nhân thực hiện, bằng chính mình hoặc thông qua nhân viên, chịu Điều 11(1); Nước nơi thực hiện có thể đánh thuế đối với thu nhập nguồn tại đó theo điều này. Dịch vụ do người không phải cá nhân, chẳng hạn công ty, thực hiện qua nhân viên hoặc nhân sự khác là lợi nhuận doanh nghiệp: áp Điều 4 và 5, Nước nguồn chỉ được đánh thuế khi có cơ sở thường trú. Thu nhập việc làm của nhân viên thuộc Điều 12(1).
Điều 3: cư trú và doanh nghiệp
Đối với hiệp định: công ty Australia trước hết phải là công ty cư trú tại Australia cho mục đích thuế Australia, và hoặc được thành lập tại Australia và có trung tâm quản trị hoặc quản lý thực tế tại Australia, bất kể bị kiểm soát vượt trội từ nước ngoài, hoặc công ty có quản lý và kiểm soát tại Australia. Công ty Singapore là công ty có quản lý và kiểm soát tại Singapore và không phải công ty Australia. Người cư trú Singapore gồm công ty Singapore và người không phải công ty cư trú tại Singapore cho mục đích thuế Singapore. Người cư trú Australia gồm công ty Australia và người khác không phải công ty Singapore, cư trú tại Australia cho mục đích thuế Australia.
Nếu một cá nhân cư trú cả hai Nước theo khoản 1, người đó chỉ được coi là cư trú Singapore khi có nhà ở thường xuyên tại Singapore nhưng không có tại Australia; nếu có tại cả hai hoặc không có tại cả hai, khi thường xuyên sinh sống tại Singapore nhưng không tại Australia; nếu thường xuyên sinh sống ở cả hai hoặc không ở cả hai, khi quan hệ cá nhân và kinh tế gần gũi hơn với Singapore. Áp quy tắc đối xứng để chỉ coi cư trú Australia: nhà ở thường xuyên chỉ tại Australia; nếu cần, thường xuyên sinh sống chỉ tại Australia; nếu vẫn cần, quan hệ cá nhân và kinh tế gần gũi hơn với Australia.
Nếu người không phải cá nhân cư trú cả hai Nước theo khoản 1, chỉ coi cư trú Singapore nếu quản lý và kiểm soát tại Singapore, và chỉ coi cư trú Australia nếu quản lý và kiểm soát tại Australia. Các từ “người cư trú của một Nước ký kết” và “người cư trú của Nước ký kết kia” được hiểu tương ứng với các quy định trên, theo ngữ cảnh. “Doanh nghiệp của một Nước ký kết” và “doanh nghiệp của Nước ký kết kia” là hoạt động công nghiệp hoặc thương mại, kể cả khai mỏ, nông nghiệp, chăn nuôi, lâm nghiệp hay đồn điền, do người cư trú của Nước tương ứng tiến hành.
Điều 4(1)–(4): cơ sở thường trú, công trình và ngoại lệ
Cơ sở thường trú của doanh nghiệp là địa điểm kinh doanh cố định qua đó hoạt động kinh doanh được thực hiện toàn bộ hoặc một phần. Bao gồm: nơi quản lý; chi nhánh; văn phòng; cửa hàng hoặc điểm bán; nhà máy; xưởng; nhà kho, trừ trường hợp thuộc khoản 4; mỏ, giếng dầu hay khí, mỏ đá hoặc nơi khai thác tài nguyên tự nhiên khác; công trường xây dựng hoặc dự án xây dựng, lắp đặt hay lắp ráp, hoặc tổ hợp của chúng, tồn tại tổng cộng hơn sáu tháng trong bất kỳ thời kỳ 12 tháng nào.
Doanh nghiệp được coi có cơ sở thường trú và kinh doanh qua cơ sở đó tại Nước kia nếu thực hiện ở đó hoạt động giám sát liên quan đến công trường hoặc dự án xây dựng, lắp đặt, lắp ráp đang tiến hành tại đó, trong thời gian tổng cộng hơn sáu tháng trong bất kỳ thời kỳ 12 tháng nào; hoặc thiết bị đáng kể được doanh nghiệp, cho doanh nghiệp, hay theo hợp đồng với doanh nghiệp sử dụng tại Nước kia.
Không coi là cơ sở thường trú: dùng phương tiện chỉ để lưu kho hoặc trưng bày hàng của doanh nghiệp; giữ hàng chỉ để lưu kho hoặc trưng bày; giữ hàng chỉ để doanh nghiệp khác gia công; giữ địa điểm kinh doanh cố định chỉ để mua hàng hoặc thu thập thông tin cho doanh nghiệp; giữ địa điểm cố định chỉ thực hiện cho doanh nghiệp hoạt động chuẩn bị hoặc phụ trợ, như quảng cáo, cung cấp thông tin hoặc nghiên cứu khoa học.
Điều 4(5)–(7): đại diện và quyền kiểm soát
Người hoạt động tại một Nước thay mặt doanh nghiệp Nước kia, ngoài đại diện độc lập thuộc khoản 6, được coi là cơ sở thường trú tại Nước thứ nhất nếu: có và thường xuyên thực hiện quyền ký kết hợp đồng cho hoặc thay mặt doanh nghiệp, trừ khi chỉ giới hạn mua hàng cho doanh nghiệp; giữ tại Nước đó kho hàng của doanh nghiệp và thường xuyên giao hàng từ kho để đáp ứng đơn hàng thay doanh nghiệp; thường xuyên tìm kiếm đơn hàng tại Nước đó hoàn toàn hoặc chủ yếu cho doanh nghiệp, hay cho doanh nghiệp do doanh nghiệp ấy kiểm soát hoặc có quyền kiểm soát doanh nghiệp ấy; hoặc khi hoạt động như vậy sản xuất hay gia công hàng thuộc doanh nghiệp tại Nước thứ nhất.
Một doanh nghiệp không có cơ sở thường trú tại Nước kia chỉ vì kinh doanh qua người môi giới, đại lý hoa hồng thông thường hoặc đại diện độc lập khác, nếu người ấy hoạt động trong phạm vi kinh doanh thông thường của mình. Việc công ty cư trú một Nước kiểm soát hoặc bị công ty cư trú Nước kia kiểm soát, hoặc công ty kia kinh doanh tại Nước đó qua cơ sở thường trú hay cách khác, tự nó không làm công ty này thành cơ sở thường trú của công ty kia.
Điều 4A: thu nhập bất động sản
Thu nhập từ bất động sản có thể chịu thuế tại Nước nơi có bất động sản. “Bất động sản” có nghĩa theo luật Nước nơi tài sản nằm, và bao gồm trong mọi trường hợp quyền thuê hoặc quyền lợi khác trên đất, có hoặc không có công trình; quyền thăm dò hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên; quyền nhận khoản trả biến đổi hoặc cố định đối với việc khai thác hay quyền thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Quyền thuê hoặc quyền lợi trên đất được coi nằm tại nơi có đất; quyền thăm dò, khai thác hoặc nhận khoản trả liên quan được coi nằm tại Nước nơi có tài nguyên hoặc nơi việc thăm dò có thể diễn ra. Khoản 1 và 3 cũng áp dụng đối với thu nhập từ bất động sản của doanh nghiệp và bất động sản dùng cho việc cung cấp dịch vụ nghề nghiệp.
Điều 5: lợi nhuận doanh nghiệp và tám khoản đầy đủ
Lợi nhuận doanh nghiệp của một Nước chỉ chịu thuế tại Nước đó, trừ khi doanh nghiệp kinh doanh tại Nước kia qua cơ sở thường trú tại đó. Khi có hoạt động như vậy, Nước kia chỉ được đánh thuế phần lợi nhuận quy cho cơ sở thường trú. Theo khoản 2, khi doanh nghiệp kinh doanh qua cơ sở thường trú tại Nước kia, mỗi Nước phải quy cho cơ sở này lợi nhuận mà cơ sở có thể đạt được nếu là doanh nghiệp tách biệt, độc lập, làm cùng hoặc tương tự hoạt động trong cùng hoặc tương tự điều kiện, giao dịch hoàn toàn độc lập với doanh nghiệp chủ quản hoặc doanh nghiệp khác.
Khoản 3: khi xác định lợi nhuận cơ sở thường trú, được khấu trừ chi phí phát sinh cho mục đích của cơ sở, gồm chi phí điều hành và quản trị chung, tại Nước nơi có cơ sở hoặc nơi khác, nếu những chi phí ấy được khấu trừ khi cơ sở là doanh nghiệp độc lập. Khoản 4: không quy lợi nhuận cho cơ sở chỉ vì cơ sở mua hàng cho doanh nghiệp. Khoản 5: nếu thông tin cơ quan có thẩm quyền có không đủ xác định lợi nhuận quy cho cơ sở, điều này không cản luật trong nước xác định nghĩa vụ thuế bằng quyền cân nhắc hoặc ước tính; phải thực hiện phù hợp với nguyên tắc điều này trong chừng mực thông tin cho phép.
Khoản 6: nếu lợi nhuận gồm các khoản thu nhập được điều khác của hiệp định quy định riêng, những điều ấy không bị Điều 5 ảnh hưởng. Khoản 7: điều này không cản việc áp dụng quy định riêng trong luật một Nước về thuế đánh trên lợi nhuận từ bảo hiểm với người không cư trú; nếu luật đang có tại ngày ký thay đổi ngoài sửa nhỏ không ảnh hưởng tính chất chung, hai Chính phủ phải tham vấn để thỏa thuận sửa khoản này khi cần.
Khoản 8: khi người cư trú một Nước có quyền hưởng lợi, trực tiếp hoặc qua một hay nhiều quỹ tín thác trung gian, đối với một phần lợi nhuận kinh doanh do người được ủy thác của quỹ tín thác, không phải quỹ được coi là công ty cho mục đích thuế, thực hiện tại Nước kia, và đối với doanh nghiệp ấy, người được ủy thác theo nguyên tắc Điều 4 sẽ có cơ sở thường trú tại Nước kia, người cư trú được coi tiến hành hoạt động kinh doanh đó qua cơ sở thường trú tại Nước kia; phần lợi nhuận được quy cho cơ sở ấy.
Điều 6: doanh nghiệp liên kết và điều chỉnh tương ứng
Khi doanh nghiệp một Nước tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quản lý, kiểm soát hoặc vốn của doanh nghiệp Nước kia, hoặc cùng những người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quản lý, kiểm soát hoặc vốn của doanh nghiệp ở cả hai Nước, và trong cả hai trường hợp điều kiện thương mại hay tài chính giữa họ khác điều kiện giữa các doanh nghiệp độc lập, lợi nhuận lẽ ra thuộc một doanh nghiệp nhưng không phát sinh do các điều kiện ấy có thể được tính vào lợi nhuận doanh nghiệp và chịu thuế tương ứng.
Điều này không cản luật một Nước xác định nghĩa vụ thuế, kể cả bằng quyền cân nhắc hoặc ước tính khi thông tin không đủ để xác định lợi nhuận đáng lẽ phát sinh. Quyền hoặc ước tính phải được áp dụng nhất quán với nguyên tắc điều này trong phạm vi có thể thực hiện. Nếu một Nước đưa vào lợi nhuận doanh nghiệp mình và đánh thuế khoản mà doanh nghiệp Nước kia đã chịu thuế, và khoản được đưa vào chính là lợi nhuận lẽ ra phát sinh theo điều kiện độc lập, Nước kia phải điều chỉnh thích hợp số thuế đánh trên khoản đó. Khi xác định điều chỉnh phải xét các điều khác của hiệp định và cơ quan hai Nước tham vấn nếu cần.
Điều 7: tàu biển và máy bay
Lợi nhuận người cư trú một Nước thu từ vận hành tàu biển hoặc máy bay chỉ chịu thuế tại Nước đó. Ngoại lệ: lợi nhuận từ hành trình, chuyến bay hoặc hoạt động chỉ giữa các địa điểm trong Nước kia có thể chịu thuế tại Nước kia. Các quy định này cũng áp dụng đối với phần lợi nhuận từ tàu biển hoặc máy bay người cư trú hưởng do tham gia tổ hợp, tổ chức khai thác chung hoặc cơ quan khai thác quốc tế.
Lợi nhuận vận hành tàu biển hoặc máy bay bao gồm tiền lãi từ khoản tiền được giữ tại Nước kia có liên hệ với hoạt động vận hành trong giao thông quốc tế. Với điều này, lợi nhuận chuyên chở hành khách, gia súc, thư tín hoặc hàng được xếp lên tại một Nước và dỡ tại nơi khác trong cùng Nước, hoặc tại công trình hay thiết bị dùng thăm dò, khai thác tài nguyên ở vùng nước kề lãnh hải Nước đó, được coi phát sinh từ hành trình hay chuyến bay chỉ giữa các địa điểm của Nước đó. Điều sửa đổi này áp dụng từ 01/07/1983 tại Australia và 01/01/1983 tại Singapore.
Điều 8: cổ tức
Cổ tức do công ty cư trú Australia trả cho người cư trú Singapore có quyền hưởng lợi có thể chịu thuế Australia, nhưng không quá 15% tổng số cổ tức. Cổ tức do công ty cư trú Singapore, hoặc công ty Malaysia từ lợi nhuận nguồn Singapore, trả cho người cư trú Australia có quyền hưởng lợi được miễn tại Singapore mọi khoản thuế đánh trên cổ tức ngoài thuế đánh trên lợi nhuận công ty.
Khoản 2 không ảnh hưởng quy định luật Singapore theo đó công ty Singapore, hoặc công ty Malaysia đối với lợi nhuận nguồn Singapore, phải khấu trừ từ cổ tức hay được coi đã khấu trừ thuế Singapore ở mức thích hợp; cũng không ảnh hưởng việc điều chỉnh số thuế được coi đã khấu trừ theo thuế suất thích hợp cho năm tính thuế ngay sau năm cổ tức được trả. Nếu Singapore sau này đánh thuế cổ tức ngoài thuế lợi nhuận công ty, khoản ấy không vượt 15% tổng cổ tức mà người cư trú Australia có quyền hưởng lợi.
Khoản 1, 2 và 4 không áp dụng nếu người hưởng lợi cư trú một Nước có cơ sở thường trú tại Nước kia và phần nắm giữ tạo ra cổ tức gắn thực tế với kinh doanh qua cơ sở đó; áp Điều 5. Cổ tức do công ty cư trú một Nước trả cho người có quyền hưởng lợi không cư trú Nước kia được miễn thuế tại Nước kia; quy tắc này không áp dụng cho công ty cư trú đồng thời cả hai Nước.
Điều 9: lãi
Lãi phát sinh tại Australia do người cư trú Singapore có quyền hưởng lợi được Australia đánh thuế không quá 10% tổng số lãi; lãi phát sinh tại Singapore do người cư trú Australia có quyền hưởng lợi được Singapore đánh thuế không quá 10% tổng số lãi. Hai giới hạn không áp dụng nếu người hưởng có cơ sở thường trú tại Nước nguồn và khoản nợ tạo ra lãi gắn thực tế với kinh doanh qua cơ sở đó; khi ấy áp Điều 5.
Nếu do quan hệ đặc biệt giữa bên trả và bên hưởng, hoặc cả hai với người khác, số lãi vượt số họ lẽ ra thỏa thuận khi không có quan hệ đó, điều này chỉ áp dụng đối với số theo điều kiện độc lập. Phần vượt vẫn chịu thuế theo luật mỗi Nước, có xét các điều khác của hiệp định. “Lãi” là lãi và khoản có tính chất lãi từ trái phiếu, chứng khoán, giấy nợ hoặc mọi hình thức nợ, trừ lãi thuộc khoản 4 Điều 7. Định nghĩa sửa đổi áp dụng từ 01/07/1983 tại Australia và 01/01/1983 tại Singapore.
Điều 10: tiền bản quyền
Tiền bản quyền phát sinh tại Australia mà người cư trú Singapore có quyền hưởng lợi chịu thuế Australia không quá 10% tổng tiền; theo chiều ngược lại, tiền phát sinh tại Singapore mà người cư trú Australia có quyền hưởng lợi chịu thuế Singapore không quá 10%.
“Tiền bản quyền” gồm khoản trả hoặc ghi có, định kỳ hay không, dù mô tả hoặc tính theo cách nào, trong chừng mực đối giá cho: dùng hoặc quyền dùng bản quyền, trừ bản quyền văn học, sân khấu, âm nhạc hoặc nghệ thuật; bằng sáng chế, kiểu dáng hoặc mô hình, bản vẽ, công thức hoặc quy trình bí mật, nhãn hiệu hoặc tài sản, quyền tương tự; dùng hoặc quyền dùng thiết bị công nghiệp, thương mại hay khoa học; cung cấp kiến thức hoặc thông tin khoa học, công nghiệp, thương mại; hoặc cam kết không thực hiện toàn bộ hay một phần việc dùng, quyền dùng hoặc cung cấp nói trên.
Không bao gồm tiền bản quyền hay khoản trả đối với vận hành mỏ, mỏ đá hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên, hoặc đối giá dùng hay quyền dùng phim điện ảnh, băng dùng cho phát thanh, phim hoặc băng video dùng cho truyền hình. Giới hạn khoản 1, 2 không áp dụng nếu người hưởng lợi có cơ sở thường trú tại Nước nguồn và thông tin, quyền hoặc tài sản tạo tiền bản quyền gắn thực tế với kinh doanh qua cơ sở đó; áp Điều 5. Nếu quan hệ đặc biệt làm tiền vượt mức độc lập, điều này chỉ áp phần độc lập; phần vượt chịu luật mỗi Nước có xét những điều khác.
Điều 10A: chuyển nhượng tài sản
Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản có thể chịu thuế tại Nước nơi bất động sản nằm. Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản không phải bất động sản thuộc tài sản kinh doanh của cơ sở thường trú mà doanh nghiệp một Nước có tại Nước kia, hoặc thuộc cơ sở cố định mà người cư trú một Nước có tại Nước kia để cung cấp dịch vụ cá nhân độc lập, có thể chịu thuế Nước kia; bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng cơ sở thường trú một mình hay cùng toàn bộ doanh nghiệp, hoặc cơ sở cố định.
Thu nhập từ chuyển nhượng tàu biển hoặc máy bay vận hành trong giao thông quốc tế, hoặc tài sản không phải bất động sản gắn với vận hành ấy, chỉ chịu thuế tại Nước mà doanh nghiệp đã vận hành tàu biển hoặc máy bay ấy cư trú. Thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần hoặc lợi ích tương đương trong công ty mà tài sản hoàn toàn hoặc chủ yếu gồm bất động sản tại một Nước có thể chịu thuế tại Nước đó. Ngoài các khoản trên, điều này không ảnh hưởng luật một Nước về thuế đối với lợi tức vốn từ chuyển nhượng tài sản khác.
Điều 11: dịch vụ cá nhân
Trừ Điều 12, 13 và 14, thu nhập của cá nhân cư trú một Nước từ dịch vụ cá nhân, kể cả dịch vụ nghề nghiệp, chỉ chịu thuế Nước đó, trừ khi dịch vụ thực hiện tại Nước kia; nếu thực hiện tại đó, thu nhập nguồn tại Nước kia có thể chịu thuế tại Nước kia. Thù lao giám đốc công ty được coi là thu nhập dịch vụ cá nhân theo Điều 11 và 12. Phí mà người cư trú một Nước nhận với tư cách thành viên hội đồng quản trị của công ty cư trú Nước kia được coi là đối giá dịch vụ thực hiện tại Nước kia.
Dù khoản 1, tiền công việc làm được thực hiện trên tàu biển hoặc máy bay vận hành trong giao thông quốc tế của người cư trú một Nước được miễn thuế tại Nước kia.
Điều 12: ngoại lệ 183 ngày và người biểu diễn
Thu nhập dịch vụ cá nhân mà cá nhân cư trú một Nước nhận từ Nước kia được miễn thuế tại Nước kia khi cùng thỏa: người nhận có mặt tại Nước kia tổng cộng không quá 183 ngày trong năm thu nhập hoặc kỳ tính thuế liên quan; dịch vụ thực hiện cho hoặc thay mặt người cư trú của Nước thứ nhất; và thu nhập không được khấu trừ khi xác định lợi nhuận của cơ sở thường trú tại Nước kia của chính người mà dịch vụ được thực hiện cho hoặc thay mặt.
Miễn trừ này không áp dụng thu nhập nghệ sĩ biểu diễn công chúng, như nghệ sĩ sân khấu, điện ảnh, phát thanh, truyền hình, nhạc sĩ hoặc vận động viên, từ hoạt động cá nhân của họ. Nếu doanh nghiệp một Nước theo hợp đồng cung cấp tại Nước kia dịch vụ của người biểu diễn nói trên, lợi nhuận từ việc cung cấp có thể chịu thuế Nước kia, bất kể những quy định khác. Các lợi nhuận của doanh nghiệp ấy được coi có nguồn tại Nước kia. Tuy nhiên, chính lợi nhuận doanh nghiệp đó được miễn tại Nước kia nếu doanh nghiệp, liên quan đến cung cấp những dịch vụ ấy, được hỗ trợ đáng kể từ công quỹ Chính phủ Nước thứ nhất. Chính phủ ở đây là Chính phủ Singapore, hoặc Chính phủ liên bang hay Chính phủ một bang của Australia, tùy trường hợp.
Điều 13: lương hưu và niên kim
Lương hưu và niên kim phát sinh tại một Nước trả cho cá nhân cư trú Nước kia được miễn thuế tại Nước nguồn. “Niên kim” là số tiền định kỳ xác định, trả vào thời điểm định kỳ cố định trong đời hoặc trong thời kỳ xác định hay có thể xác định, theo nghĩa vụ trả để đổi lấy đối giá đầy đủ, thỏa đáng bằng tiền hoặc giá trị bằng tiền. Điều này không áp dụng lương hưu do Chính phủ Khối Thịnh vượng chung Australia, Chính phủ một bang của Khối Thịnh vượng chung, hoặc Chính phủ Singapore trả cho dịch vụ thực hiện trong việc thi hành chức năng chính phủ.
Điều 14: thù lao chính phủ
Thù lao, ngoài lương hưu, do Chính phủ liên bang Australia hoặc Chính phủ một bang trả cho cá nhân vì dịch vụ thực hiện trong việc thi hành chức năng chính phủ được miễn thuế Singapore, trừ khi cá nhân cư trú Singapore và không phải công dân Australia. Thù lao tương ứng do Chính phủ Singapore trả được miễn thuế Australia, trừ khi cá nhân cư trú Australia và không phải công dân Singapore. Điều này không áp dụng thù lao cho dịch vụ gắn với hoạt động thương mại hoặc kinh doanh do Chính phủ tiến hành nhằm thu lợi nhuận.
Điều 15: sinh viên và người học nghề
Sinh viên hoặc người học nghề hiện diện tại một Nước chỉ để học tập hoặc đào tạo, và là hoặc ngay trước khi đến là người cư trú Nước kia, được miễn thuế tại Nước đến đối với các khoản từ nguồn ngoài Nước đó nhận để trang trải sinh hoạt, học tập hoặc đào tạo.
Điều 16 và 16A: người cư trú kép và thu nhập khác
Nếu người theo Điều 3 được coi chỉ cư trú một Nước, người ấy được miễn tại Nước kia đối với thu nhập chịu thuế tại Nước cư trú, phát sinh từ nguồn tại Nước cư trú hoặc ngoài cả hai Nước. Điều 16A quy định rằng khoản thu nhập của người cư trú một Nước không được các điều trước của hiệp định quy định vẫn chịu thuế theo luật mỗi Nước.
Điều 17: nguồn thu nhập để khấu trừ thuế
Để áp dụng Điều 18 và luật thuế thu nhập của mỗi Nước, thu nhập, lợi nhuận hoặc lợi tức mà một Nước có thể đánh thuế đối với người cư trú Nước kia theo Điều 4A, 5, 7 đến 14 và 16A được coi là phát sinh từ nguồn tại Nước thứ nhất.
Điều 18(1)–(2): khấu trừ thuế tại Australia
Theo các quy định của luật Australia tại từng thời điểm về khấu trừ thuế đã trả ngoài Australia, không ảnh hưởng nguyên tắc chung dưới đây, thuế Singapore đã trả, trực tiếp hoặc khấu trừ, phù hợp luật Singapore và hiệp định đối với thu nhập người cư trú Australia nhận từ nguồn Singapore được khấu trừ vào thuế Australia đối với thu nhập đó.
Nếu thu nhập là cổ tức do công ty cư trú Singapore trả cho công ty cư trú Australia kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% quyền biểu quyết trong công ty Singapore, khoản khấu trừ theo khoản 1 còn tính thuế Singapore công ty đã trả trên lợi nhuận dùng trả cổ tức. Khoản 2 này chỉ áp dụng cổ tức trả trước ngày 12/03/1988.
Điều 18(3)–(5): thuế được coi đã trả và khấu trừ Singapore
Đối với khoản 1 và 2, thuế Singapore đã trả bao gồm khoản lẽ ra phải trả nếu không được miễn hoặc giảm theo: Điều 13(2) Income Tax Act, bản 1985; các Phần II, IIIA, IV, VI, VII, VIII, IX, X, XI của Economic Expansion Incentives (Relief from Income Tax) Act, bản 1988; và các Phần III, V, VIA, XII của đạo luật đó, trừ thu nhập từ dịch vụ tài chính, kể cả bảo hiểm, được cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho người cư trú Australia. Các quy định này là quy định có hiệu lực tại ngày ký Nghị định thư thứ nhất và chưa được sửa, hoặc chỉ sửa nhỏ không ảnh hưởng tính chất chung. Cũng bao gồm quy định pháp luật Singapore ban hành sau, về cơ bản tương tự, được Treasurer Australia và Bộ trưởng Tài chính Singapore hoặc đại diện được ủy quyền thỏa thuận qua trao đổi thư, với điều kiện quy định đó sau ấy không được sửa hoặc chỉ sửa nhỏ không ảnh hưởng tính chất chung.
Khoản 3 chỉ áp dụng trong mười năm thu nhập bắt đầu từ 01/07/1987, và các thời kỳ tiếp theo mà hai bên thỏa thuận bằng trao đổi thư. Theo luật Singapore về khấu trừ thuế đã trả tại nước ngoài, thuế Australia đã trả, trực tiếp hoặc khấu trừ, đối với thu nhập nguồn Australia được khấu trừ vào thuế Singapore đối với khoản đó. Nếu là cổ tức từ công ty Australia trả cho công ty Singapore nắm trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% quyền biểu quyết, khoản khấu trừ tính cả thuế Australia công ty trả trên lợi nhuận, ngoài thuế cổ tức.
Điều 19 trong thân văn bản: phiên bản đã được thay
Thân bản hợp nhất vẫn in Điều 19 cũ. Khoản 1: cơ quan có thẩm quyền trao đổi thông tin có sẵn theo luật thuế tương ứng trong quá trình quản lý thông thường, cần thiết để thực hiện hiệp định hoặc ngăn gian lận hay quản lý các quy định thành văn chống tránh thuế hợp pháp đối với thuế thuộc hiệp định. Khoản 2: thông tin trao đổi được giữ bí mật nhưng có thể tiết lộ cho người, gồm tòa án hoặc tài phán, liên quan ấn định, thu, thi hành hay truy tố đối với các thuế thuộc hiệp định. Khoản 3: không trao đổi thông tin như trên nếu làm lộ bí mật thương mại, kinh doanh, công nghiệp hoặc nghề nghiệp, hay quy trình thương mại.
Đây là văn bản lịch sử được in ở trang 31, không phải quy tắc trao đổi thông tin hiện hành sau Nghị định thư thứ hai. Phụ lục B thay toàn bộ Điều 19 bằng năm khoản được trình bày đầy đủ bên dưới.
Điều 20 trong thân văn bản: thủ tục thỏa thuận song phương
Nếu người nộp thuế cho rằng hành động của cơ quan có thẩm quyền tại một Nước đã dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến đánh thuế hai lần trái hiệp định, người ấy có quyền trình các sự việc cho cơ quan có thẩm quyền Nước mình cư trú. Nếu yêu cầu của người nộp thuế được coi đáng xem xét, cơ quan Nước cư trú phải cố gắng đạt thỏa thuận với cơ quan Nước kia nhằm tránh việc đánh thuế hai lần đó. Đây là khoản 1 cũ; khoản 1A bổ sung trong phụ lục A dùng cách diễn đạt rộng hơn về phản đối có căn cứ và cơ quan không tự đạt giải pháp thỏa đáng.
Cơ quan hai Nước có thể trực tiếp trao đổi nhằm thực hiện hiệp định và bảo đảm giải thích, áp dụng nhất quán. Cụ thể có thể cùng tham vấn giải quyết tranh chấp phát sinh từ Điều 5(2) hoặc Điều 6. Phải đọc Điều 20 cùng sửa đổi về ba năm, thực hiện thỏa thuận bất kể thời hạn trong nước và tham vấn của phụ lục A.
Điều 21–22: hiệu lực, chấm dứt và chữ ký
Hiệp định có hiệu lực vào ngày hoàn tất mọi thủ tục pháp lý cần thiết để tạo hiệu lực pháp luật tại cả hai Nước. Tại Australia: đối với thuế khấu trừ trên thu nhập của người không cư trú, áp dụng thu nhập nhận từ 01/07/1969; đối với các thuế Australia khác, áp dụng thu nhập của mọi năm thu nhập bắt đầu từ 01/07/1969. Tại Singapore áp dụng thuế của mọi năm tính thuế bắt đầu từ 01/01/1970.
Hiệp định tiếp tục vô thời hạn. Một Nước có thể gửi cho Nước kia thông báo chấm dứt bằng văn bản vào hoặc trước 30/06 của bất kỳ năm nào. Khi đó chấm dứt hiệu lực tại Australia đối với thuế khấu trừ trên thu nhập người không cư trú nhận từ 01/07 của năm dương lịch kế tiếp, và thuế khác của năm thu nhập bắt đầu từ 01/07 năm kế tiếp; tại Singapore đối với thuế của năm tính thuế bắt đầu từ 01/01 của năm dương lịch thứ hai tiếp sau năm thông báo.
Người ký được ủy quyền đã ký làm bằng chứng. Lập hai bản tiếng Anh tại Canberra ngày 11/02/1969: thay Chính phủ Cộng hòa Singapore, S. T. Stewart; thay Chính phủ Khối Thịnh vượng chung Australia, W. McMahon.
Phụ lục A.1–2: lời mở đầu và Điều 20 sau MLI
Lời mở đầu mới thể hiện mong muốn phát triển hơn nữa quan hệ kinh tế và tăng cường hợp tác thuế; ý định xóa đánh thuế hai lần đối với các thuế trong hiệp định mà không tạo cơ hội không chịu thuế hoặc giảm thuế qua trốn hay tránh thuế, kể cả việc lựa chọn hiệp định có lợi nhằm giúp người cư trú nước thứ ba gián tiếp hưởng các miễn giảm trong hiệp định.
Khoản 1 Điều 20 được sửa bằng cách chèn ngay sau câu kết về tránh đánh thuế hai lần một câu: vụ việc phải được trình trong vòng ba năm kể từ thông báo đầu tiên về hành động dẫn đến đánh thuế không phù hợp các quy định hiệp định. Phần nguyên có của khoản 1, trình bày ở trên, vẫn giữ; phụ lục không thay toàn khoản 1 bằng một công thức khác.
Thêm khoản 1A: cơ quan có thẩm quyền phải cố gắng, nếu phản đối có căn cứ và không thể tự đạt giải pháp thỏa đáng, giải quyết vụ việc qua thỏa thuận với cơ quan Nước kia để tránh thuế trái hiệp định. Mọi thỏa thuận đạt được phải được thực hiện bất kể thời hạn trong luật nội địa. Thêm khoản 1B: cơ quan hai Nước phải cố gắng giải quyết bằng thỏa thuận mọi khó khăn hoặc nghi ngờ về giải thích hoặc áp dụng hiệp định; cũng có thể cùng tham vấn loại bỏ đánh thuế hai lần trong trường hợp hiệp định không quy định.
Phụ lục A.3: điều kiện chèn Điều 20A–20G và yêu cầu trọng tài
Các Điều 20A–20G được chèn ngay sau Điều 20, trừ khi một Nước phản đối theo Điều 28(2)(b) MLI đối với bảo lưu mà Nước kia đưa ra theo Điều 28(2)(a) MLI. Hạn nêu trong nguồn: Singapore phải phản đối chậm nhất ngày 25/09/2019, Australia chậm nhất ngày 20/12/2019. Văn bản này ghi điều kiện và hạn của nguồn, không tự kết luận tình trạng phản đối thực tế ngoài tài liệu.
Điều 20A(1): khi một người trình vụ việc theo Điều 20 cho cơ quan một Nước vì hành động một hoặc cả hai Nước dẫn đến thuế trái hiệp định, và cơ quan hai Nước không đạt thỏa thuận giải quyết theo Điều 20(1A) trong hai năm từ ngày bắt đầu xác định tại khoản 8 hoặc 9, các vấn đề chưa giải quyết phải đưa trọng tài nếu người đó yêu cầu bằng văn bản. Hai cơ quan có thể thỏa thuận thời kỳ khác trước khi thời kỳ hai năm kết thúc và thông báo cho người trình vụ việc. Trọng tài thực hiện theo quy tắc, thủ tục hai cơ quan thỏa thuận theo khoản 10.
Điều 20A(2): nếu một cơ quan đình chỉ thủ tục song phương vì vụ việc cùng một hay nhiều vấn đề đang chờ tòa án hoặc tài phán hành chính, thời kỳ khoản 1(b) ngừng chạy đến khi có quyết định cuối cùng hoặc vụ việc tại đó đình chỉ hay rút. Nếu người trình vụ việc và cơ quan đồng ý đình chỉ thủ tục song phương, đồng hồ ngừng đến khi hết đình chỉ. Khoản 3: nếu cả hai cơ quan đồng ý người trực tiếp bị ảnh hưởng không kịp cung cấp thêm thông tin trọng yếu được yêu cầu sau khi thời kỳ bắt đầu, thời kỳ được kéo dài bằng khoảng từ hạn phải cung cấp đến ngày thông tin được cung cấp.
Điều 20A(4): thực hiện và tính ràng buộc của phán quyết
Phán quyết về vấn đề đưa trọng tài được thực hiện qua thỏa thuận song phương liên quan vụ việc ở khoản 1; phán quyết là cuối cùng và ràng buộc cả hai Nước, trừ ba trường hợp dưới đây.
Thứ nhất, người trực tiếp bị ảnh hưởng không chấp nhận thỏa thuận thực hiện phán quyết. Khi ấy vụ việc không còn đủ điều kiện được cơ quan có thẩm quyền xem xét tiếp. Coi người đó không chấp nhận nếu, trong 60 ngày sau ngày thông báo thỏa thuận được gửi cho mình, không rút mọi vấn đề đã giải quyết khỏi sự xem xét của tòa án hoặc tài phán hành chính, hoặc không chấm dứt theo cách phù hợp với thỏa thuận mọi thủ tục tòa án hay hành chính đang chờ về những vấn đề ấy.
Thứ hai, quyết định cuối cùng của tòa án một Nước tuyên phán quyết trọng tài vô hiệu. Khi ấy coi yêu cầu trọng tài chưa được đưa ra và quá trình trọng tài chưa diễn ra, trừ mục đích Điều 20C và 20F. Được yêu cầu trọng tài mới, trừ khi hai cơ quan đồng ý không cho phép. Thứ ba, người trực tiếp bị ảnh hưởng tiếp tục kiện tại tòa án hoặc tài phán hành chính về các vấn đề đã giải quyết bằng thỏa thuận thực hiện phán quyết.
Điều 20A(5)–(9): lịch nhận hồ sơ, bổ sung và ngày bắt đầu
Trong hai tháng dương lịch từ khi nhận yêu cầu song phương ban đầu, cơ quan nhận phải gửi thông báo đã nhận cho người trình và thông báo kèm bản sao yêu cầu cho cơ quan Nước kia. Trong ba tháng dương lịch kể từ khi một cơ quan nhận yêu cầu hoặc bản sao từ cơ quan kia, cơ quan ấy phải: thông báo cho người trình và cơ quan kia rằng đã nhận đủ thông tin cần để xem xét nội dung vụ việc; hoặc yêu cầu người trình cung cấp thêm thông tin cho mục đích đó.
Khi một hoặc cả hai cơ quan yêu cầu thông tin bổ sung cần để xem xét nội dung theo khoản 6(b), trong ba tháng dương lịch sau khi nhận bổ sung từ người trình, cơ quan yêu cầu phải thông báo cho người trình và cơ quan kia rằng đã nhận thông tin yêu cầu, hoặc rằng một phần thông tin yêu cầu vẫn thiếu.
Nếu không cơ quan nào yêu cầu thêm theo khoản 6(b), ngày bắt đầu khoản 1 là ngày sớm hơn giữa: ngày cả hai cơ quan đã thông báo người trình theo khoản 6(a); và ngày tròn ba tháng dương lịch sau thông báo cho cơ quan Nước kia theo khoản 5(b).
Nếu có yêu cầu bổ sung theo khoản 6(b), ngày bắt đầu là ngày sớm hơn giữa: ngày muộn nhất mà các cơ quan đã yêu cầu thêm thông báo người trình và cơ quan kia theo khoản 7(a); và ngày tròn ba tháng dương lịch sau khi cả hai cơ quan nhận mọi thông tin do một trong hai yêu cầu từ người trình. Nếu một hoặc cả hai thông báo thiếu thông tin theo khoản 7(b), coi thông báo đó là yêu cầu bổ sung theo khoản 6(b).
Điều 20A(10)–(13): quy tắc, vụ việc bị loại và phạm vi thời gian
Cơ quan hai Nước theo Điều 20 phải thỏa thuận cách áp dụng Điều 20A và 20B–20G, gồm thông tin tối thiểu để mỗi cơ quan bắt đầu xem xét nội dung. Phải có thỏa thuận trước ngày các vấn đề chưa giải quyết lần đầu đủ điều kiện đưa trọng tài; có thể sửa đổi về sau.
Dù các khoản trước, vấn đề chưa giải quyết thuộc thủ tục song phương không được đưa trọng tài nếu tòa án hoặc tài phán hành chính một Nước đã ra quyết định về vấn đề ấy. Nếu sau yêu cầu trọng tài nhưng trước khi hội đồng giao quyết định cho cơ quan hai Nước, tòa án hoặc tài phán hành chính một Nước ra quyết định về vấn đề ấy, thủ tục trọng tài chấm dứt.
Điều 20A và 20B–20G không áp dụng: (a) vụ việc liên quan áp dụng quy tắc chống tránh thuế chung Singapore tại điều 33 của Act, án lệ hoặc học thuyết tư pháp, và quy định sau thay thế, sửa hoặc cập nhật chúng mà Singapore thông báo cho Cơ quan lưu chiểu MLI ký Paris 24/11/2016, kể cả sửa đổi từng thời điểm; (b) vụ việc liên quan quy tắc chống tránh thuế chung Australia tại Part IVA Income Tax Assessment Act 1936 và điều 67 Fringe Benefits Tax Assessment Act 1986, và quy định sau về cơ bản thay thế, sửa, cập nhật chúng mà Australia thông báo Cơ quan lưu chiểu; (c) vụ việc liên quan quy định pháp luật Singapore, gồm luật thành văn, án lệ, học thuyết tư pháp và phạt, tương tự các quy định điều chỉnh trường hợp (b), kể cả sửa, thay thế, cập nhật sau. Cơ quan Singapore tham vấn Australia để xác định quy định tương tự theo luật Singapore trong thỏa thuận khoản 10.
Các điều này có hiệu lực đối với vụ việc trình cơ quan một Nước theo Điều 20 từ 01/04/2019; đối với vụ việc trình trước ngày ấy chỉ áp dụng trong phạm vi cơ quan cả hai Nước thỏa thuận áp dụng cho chính vụ việc đó.
Điều 20B: thành lập hội đồng trọng tài
Trừ khi cơ quan hai Nước thỏa thuận quy tắc khác, khoản 2–4 áp dụng cho Điều 20A–20G. Hội đồng gồm ba cá nhân có chuyên môn hoặc kinh nghiệm về thuế quốc tế. Mỗi cơ quan chỉ định một thành viên trong 60 ngày từ yêu cầu trọng tài theo Điều 20A(1). Hai thành viên ấy phải chọn thành viên thứ ba làm chủ tịch trong 60 ngày từ ngày chỉ định muộn hơn trong hai người; chủ tịch không được là công dân hoặc người cư trú của một trong hai Nước.
Khi nhận chỉ định, mỗi thành viên phải vô tư và độc lập với cơ quan có thẩm quyền, cơ quan thuế, bộ tài chính hai Nước và mọi người trực tiếp bị ảnh hưởng cùng cố vấn của họ; phải giữ sự vô tư, độc lập suốt quá trình, và tránh trong thời gian hợp lý sau đó mọi hành vi có thể làm tổn hại biểu hiện vô tư, độc lập đối với thủ tục.
Nếu một cơ quan không chỉ định thành viên theo cách và thời hạn đã quy định hoặc thỏa thuận, quan chức cao cấp nhất của Centre for Tax Policy and Administration thuộc OECD không phải công dân một trong hai Nước phải thay mặt cơ quan ấy chỉ định. Nếu hai thành viên đầu không chỉ định chủ tịch theo cách và hạn quy định hoặc thỏa thuận, quan chức đáp ứng điều kiện tương tự của trung tâm OECD phải chỉ định chủ tịch.
Điều 20C–20D: bảo mật và chấm dứt khi đã giải quyết
Chỉ để áp dụng Điều 19 và 20A–20G, cùng luật trong nước liên quan trao đổi thông tin, bảo mật và hỗ trợ hành chính, thành viên hội đồng và tối đa ba nhân viên cho mỗi thành viên được coi là người hoặc cơ quan được nhận thông tin. Trọng tài viên dự kiến cũng được nhận nhưng chỉ trong phạm vi cần kiểm tra khả năng đáp ứng yêu cầu trọng tài viên. Thông tin hội đồng hoặc trọng tài viên dự kiến nhận, và thông tin cơ quan có thẩm quyền nhận từ hội đồng, được coi là thông tin trao đổi theo Điều 19.
Hai cơ quan phải bảo đảm trước khi tham gia bất kỳ thủ tục trọng tài nào, thành viên hội đồng và nhân viên đồng ý bằng văn bản xử lý mọi thông tin liên quan phù hợp nghĩa vụ bảo mật, không tiết lộ tại Điều 19 và luật hai Nước. Theo Điều 20D, thủ tục song phương cùng thủ tục trọng tài về vụ việc chấm dứt bất kỳ lúc nào sau yêu cầu nhưng trước khi hội đồng giao quyết định nếu cơ quan hai Nước đạt thỏa thuận giải quyết, hoặc người trình rút yêu cầu trọng tài hay yêu cầu thủ tục song phương.
Điều 20E: đề xuất, lựa chọn phán quyết và cam kết không tiết lộ
Trừ khi cơ quan hai Nước thỏa thuận khác, khi vụ việc đưa trọng tài, mỗi cơ quan phải gửi hội đồng vào hạn thỏa thuận một đề xuất giải quyết mọi vấn đề còn lại, có tính các thỏa thuận họ đã đạt trong vụ việc. Đề xuất chỉ giới hạn số tiền cụ thể, chẳng hạn thu nhập hoặc chi phí, hoặc nơi có quy định là thuế suất tối đa theo hiệp định cho mỗi điều chỉnh hay vấn đề tương tự. Nếu chưa thống nhất điều kiện áp dụng một quy định, gọi là câu hỏi ngưỡng, như cá nhân có cư trú không hoặc cơ sở thường trú có tồn tại không, cơ quan có thể gửi đề xuất thay thế cho vấn đề phụ thuộc kết quả câu hỏi ngưỡng.
Mỗi cơ quan cũng có thể gửi bản trình bày lập trường hỗ trợ hội đồng. Cơ quan gửi đề xuất hay bản lập trường phải chuyển bản sao cho cơ quan kia chậm nhất vào hạn nộp. Có thể gửi ý kiến trả lời đề xuất hoặc bản lập trường bên kia vào ngày thỏa thuận; phải cung cấp bản sao cho bên kia chậm nhất vào hạn trả lời.
Hội đồng chọn một trong các đề xuất của hai cơ quan cho từng vấn đề và mọi câu hỏi ngưỡng, không đưa lý do hoặc giải thích khác. Quyết định theo đa số đơn giản, giao bằng văn bản cho hai cơ quan, không có giá trị tiền lệ.
Trước khi trọng tài bắt đầu, hai cơ quan phải bảo đảm từng người trình vụ việc và cố vấn đồng ý bằng văn bản không tiết lộ cho người khác mọi thông tin nhận trong quá trình từ một cơ quan hoặc hội đồng. Nếu sau yêu cầu và trước phán quyết, người trình hay cố vấn vi phạm trọng yếu cam kết đó, thủ tục song phương theo Điều 20 và trọng tài theo Điều 20A–20G về vụ việc chấm dứt.
Điều 20F–20G: chi phí và trọng tài theo công ước khác
Phí và chi phí thành viên hội đồng cùng chi phí thủ tục phải do hai Nước chịu theo cách cơ quan có thẩm quyền thỏa thuận. Nếu không có thỏa thuận, mỗi Nước chịu chi phí của mình và thành viên mình chỉ định; chi phí chủ tịch và các chi phí khác gắn với tiến hành trọng tài chia đều.
Vấn đề chưa giải quyết trong vụ việc song phương, dù thuộc phạm vi Điều 20 và 20A–20F, không được đưa trọng tài nếu thuộc vụ việc đã có hội đồng hoặc cơ quan tương tự được thành lập theo công ước song phương hay đa phương quy định trọng tài bắt buộc, ràng buộc cho vấn đề thủ tục song phương chưa giải quyết. Điều 20G không ảnh hưởng việc thực hiện nghĩa vụ rộng hơn về trọng tài những vấn đề chưa giải quyết phát sinh từ các công ước khác mà hai Nước là hoặc sẽ là bên.
Điều 20H: phép thử mục đích chính và xem xét lại quyền lợi
Bất kể quy định khác, không cấp quyền lợi hiệp định cho một khoản thu nhập hoặc vốn nếu, xét mọi sự kiện và hoàn cảnh liên quan, có thể kết luận hợp lý rằng nhận quyền lợi đó là một trong các mục đích chính của dàn xếp hoặc giao dịch trực tiếp hay gián tiếp tạo quyền lợi, trừ khi chứng minh việc cấp quyền lợi trong hoàn cảnh ấy phù hợp đối tượng và mục đích của quy định liên quan.
Khi một người bị từ chối toàn bộ hoặc một phần quyền lợi theo quy định từ chối quyền lợi khi mục đích chính hoặc một trong các mục đích chính của dàn xếp hay giao dịch, hoặc của bất kỳ người nào liên quan dàn xếp hay giao dịch, là nhận quyền lợi, cơ quan Nước lẽ ra cấp quyền lợi vẫn phải coi người đó có quyền hưởng quyền lợi ấy hoặc quyền lợi khác cho khoản thu nhập, vốn cụ thể, nếu theo yêu cầu người ấy và sau xem xét sự kiện, hoàn cảnh, cơ quan xác định người ấy lẽ ra được hưởng nếu không có giao dịch, dàn xếp. Cơ quan nhận yêu cầu của người cư trú Nước kia phải tham vấn cơ quan Nước kia trước khi từ chối.
Phụ lục A.5: thời điểm các tác động MLI áp dụng tại Singapore
Đối với sửa Điều 20 tại đoạn 2 phụ lục: áp dụng vụ việc trình từ 01/04/2019, bất kể kỳ cơ sở vụ việc liên quan, nhưng không làm sống lại vụ việc không đủ điều kiện trình ngay trước ngày ấy. Đối với trọng tài ở đoạn 3: áp dụng thuế đã trả, được coi đã trả hoặc có nghĩa vụ trả trước, trong hoặc sau 01/04/2019.
Các đoạn khác của phụ lục: đối với thuế khấu trừ tại nguồn, áp dụng khoản tiền đã trả, được coi đã trả hoặc có nghĩa vụ trả, lấy sự kiện sớm nhất, từ 01/01/2020. Đối với mọi thuế khác, áp dụng thuế đánh trên thu nhập phát sinh hoặc nhận trong kỳ cơ sở bắt đầu từ 01/10/2019.
Phụ lục B: Nghị định thư thứ hai và Điều 19(1)–(3) thay thế
Chính phủ Cộng hòa Singapore và Chính phủ Australia mong muốn sửa hiệp định ký Canberra 11/02/1969, đã được Nghị định thư ký Canberra 16/10/1989 sửa, nên thỏa thuận Nghị định thư thứ hai. Điều I bỏ Điều 19 cũ và thay toàn bộ bằng nội dung năm khoản sau.
Khoản 1: cơ quan có thẩm quyền hai Nước trao đổi thông tin có thể dự kiến là liên quan để thực hiện hiệp định hoặc quản lý, thi hành luật nội địa liên quan các thuế thuộc mọi loại và tên gọi đánh nhân danh hai Nước, trong chừng mực thuế ấy không trái hiệp định. Việc trao đổi không bị Điều 1A và Điều 1 giới hạn.
Khoản 2: thông tin nhận theo khoản 1 được giữ bí mật giống thông tin có theo luật nội địa và chỉ tiết lộ cho người hay cơ quan, gồm tòa án và cơ quan hành chính, liên quan đến ấn định, thu, thi hành, truy tố, quyết định kháng cáo về các thuế khoản 1, hoặc giám sát các hoạt động đó. Họ chỉ dùng thông tin cho các mục đích ấy; được công bố trong tố tụng tòa công khai hoặc phán quyết.
Khoản 3: không được hiểu khoản 1, 2 buộc một Nước thực hiện biện pháp hành chính trái luật và thực tiễn hành chính của mình hoặc Nước kia; cung cấp thông tin không thể thu theo luật hoặc trong quản lý thông thường của mình hay Nước kia; cung cấp thông tin làm lộ bí mật thương mại, kinh doanh, công nghiệp, thương mại hay nghề nghiệp, quy trình thương mại, hoặc thông tin mà tiết lộ trái trật tự công cộng (ordre public).
Phụ lục B: Điều 19(4)–(5), hiệu lực và chữ ký
Khoản 4: khi một Nước yêu cầu thông tin phù hợp điều này, Nước kia phải dùng biện pháp thu thập của mình để có thông tin, dù không cần thông tin cho mục đích thuế riêng. Nghĩa vụ tuân giới hạn khoản 3 nhưng không được hiểu giới hạn ấy cho phép từ chối chỉ vì không có lợi ích thuế nội địa đối với thông tin. Khoản 5: khoản 3 không được hiểu cho phép từ chối chỉ vì thông tin do ngân hàng, định chế tài chính khác, người đứng tên, đại diện hoặc người có tư cách tín thác giữ, hoặc liên quan lợi ích sở hữu trong một người.
Điều II: hai Chính phủ thông báo qua kênh ngoại giao việc hoàn tất thủ tục nội bộ cần để đưa Nghị định thư, bộ phận không tách rời hiệp định, vào hiệu lực. Có hiệu lực vào ngày thứ 30 sau ngày thông báo cuối cùng và áp dụng từ đó. Điều III: Nghị định thư là bộ phận không tách rời hiệp định, còn hiệu lực và được áp dụng chừng nào hiệp định còn hiệu lực, được áp dụng.
Người được ủy quyền ký làm bằng chứng. Lập hai bản tiếng Anh tại Canberra ngày 08/09/2009. Thay Singapore: Albert Chua, Cao ủy Cộng hòa Singapore tại Khối Thịnh vượng chung Australia. Thay Australia: Thượng nghị sĩ, Ngài Nicholas Sherry, Assistant Treasurer. Trang đầu nguồn ghi ngày hiệu lực và áp dụng thực tế 22/12/2010.
Phụ lục C: Điều 1 và 2 trước Nghị định thư 1989
Phụ lục C chỉ giữ các điều hoặc khoản nguyên bản trước sửa đổi năm 1989; không dùng các quy tắc lịch sử này thay bản đã sửa. Điều 1(1)(a) cũ: tại Australia, thuế thu nhập Khối Thịnh vượng chung, gồm thuế bổ sung trên phần chưa phân phối của thu nhập có thể phân phối của công ty tư nhân. Điều 2(4) cũ: trừ ngữ cảnh khác, thuật ngữ không được hiệp định định nghĩa có nghĩa tại một Nước theo luật Nước ấy liên quan thuế được hiệp định áp dụng. Câu cũ chưa có cách nói “tại từng thời điểm” của bản sửa.
Phụ lục C: toàn bộ Điều 4 cũ về cơ sở thường trú
Khoản 1: cơ sở thường trú là địa điểm cố định của hoạt động thương mại hoặc kinh doanh, trong đó doanh nghiệp tiến hành toàn bộ hay một phần hoạt động ấy. Khoản 2 liệt kê nơi quản lý, chi nhánh, văn phòng, nhà máy, xưởng, mỏ, mỏ đá hoặc nơi khai thác tài nguyên thiên nhiên, bất động sản nông nghiệp, chăn nuôi, lâm nghiệp hoặc đồn điền; công trường xây dựng hoặc dự án xây dựng, lắp đặt, lắp ráp tồn tại hơn sáu tháng.
Khoản 3 loại: phương tiện chỉ để lưu kho, trưng bày hoặc giao hàng của doanh nghiệp; giữ hàng chỉ để lưu kho, trưng bày hoặc giao; giữ hàng chỉ để doanh nghiệp khác gia công; giữ địa điểm cố định chỉ mua hàng hoặc thu thập thông tin; giữ địa điểm cố định chỉ thực hiện hoạt động chuẩn bị, phụ trợ cho doanh nghiệp, như quảng cáo hoặc nghiên cứu khoa học.
Khoản 4: doanh nghiệp một Nước được coi có cơ sở thường trú và kinh doanh qua cơ sở đó tại Nước kia nếu thực hiện giám sát hơn sáu tháng liên quan công trường hay dự án xây dựng, lắp đặt, lắp ráp tiến hành tại Nước kia, hoặc thiết bị đáng kể tại Nước kia được doanh nghiệp, cho doanh nghiệp hoặc theo hợp đồng với doanh nghiệp sử dụng hay lắp đặt.
Khoản 5: người tại một Nước hoạt động thay mặt doanh nghiệp Nước kia, ngoài đại diện độc lập khoản 6, được coi cơ sở thường trú nếu có và thường xuyên thực hiện quyền ký hợp đồng thay doanh nghiệp, không chỉ mua hàng; hoặc giữ kho hàng doanh nghiệp và thường xuyên đáp ứng đơn hàng từ kho thay doanh nghiệp; hoặc khi hoạt động như vậy sản xuất, gia công hàng cho doanh nghiệp tại Nước đó.
Khoản 6: doanh nghiệp không được coi có cơ sở thường trú chỉ vì kinh doanh tại Nước kia qua môi giới, đại lý hoa hồng thông thường hoặc đại diện độc lập khác hoạt động trong phạm vi kinh doanh thông thường của mình. Khoản 7: việc công ty cư trú một Nước kiểm soát hoặc bị công ty cư trú Nước kia kiểm soát, hoặc công ty kia kinh doanh tại Nước ấy qua cơ sở thường trú hay cách khác, tự nó không làm công ty này thành cơ sở thường trú của công ty kia.
Khoản 8: nếu doanh nghiệp một Nước bán hàng do doanh nghiệp công nghiệp, thương mại tại Nước kia sản xuất, lắp ráp, gia công, đóng gói hoặc phân phối cho, theo chỉ đạo hoặc theo đặt hàng của doanh nghiệp thứ nhất, và một doanh nghiệp tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, kiểm soát hoặc vốn của doanh nghiệp kia, hoặc cùng những người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, kiểm soát hoặc vốn cả hai, doanh nghiệp thứ nhất được coi có cơ sở thường trú tại Nước kia và kinh doanh qua cơ sở đó.
Phụ lục C: toàn bộ Điều 5 cũ về lợi nhuận
Khoản 1: lợi nhuận doanh nghiệp Australia không chịu thuế Singapore trừ khi kinh doanh tại Singapore qua cơ sở thường trú tại đó; nếu có, Singapore chỉ được đánh thuế phần lợi nhuận quy cho cơ sở. Khoản 2 quy định đối xứng cho doanh nghiệp Singapore tại Australia. Khoản 3: khi doanh nghiệp một Nước kinh doanh qua cơ sở thường trú Nước kia, quy cho cơ sở lợi nhuận có thể kỳ vọng nếu cơ sở là doanh nghiệp riêng biệt, làm cùng hoặc tương tự hoạt động và giao dịch hoàn toàn độc lập với doanh nghiệp chủ quản hoặc doanh nghiệp độc lập khác; lợi nhuận quy ấy được coi thu nhập nguồn tại Nước kia và chịu thuế tương ứng.
Khoản 4: được khấu trừ mọi chi phí doanh nghiệp, gồm điều hành và quản trị chung, có thể được khấu trừ nếu cơ sở là doanh nghiệp độc lập và phân bổ hợp lý cho cơ sở, bất kể phát sinh tại Nước có cơ sở hay nơi khác. Tuy nhiên, khi hàng doanh nghiệp sản xuất ngoài Nước đó được nhập và bán tại đó, dù trước hay sau nhập, có thể xác định lợi nhuận chịu thuế bằng lấy giá bán trừ số tiền mà tại ngày gửi hàng một người mua sỉ ở nước sản xuất có thể mua hàng cùng tính chất và chất lượng, cùng chi phí vận chuyển và bán tại Nước đó.
Khoản 5: nếu thông tin cơ quan có thẩm quyền không đủ xác định lợi nhuận cơ sở, điều này không ảnh hưởng luật xác định thuế bằng cân nhắc hoặc ước tính; trong phạm vi thông tin cho phép phải phù hợp nguyên tắc điều này. Khoản 6: không quy lợi nhuận chỉ vì cơ sở mua, hoặc mua và vận chuyển, hàng cho doanh nghiệp.
Khoản 7: điều này không cản luật một Nước quy định riêng thuế đối với người kinh doanh bảo hiểm dưới mọi hình thức, hoặc người không cư trú nhận thu nhập theo hợp đồng, thỏa thuận với người tiến hành tại Nước đó bất kỳ hình thức kinh doanh phim do nước ngoài kiểm soát. Nếu luật tại ngày ký thay đổi ngoài sửa nhỏ không ảnh hưởng tính chất chung, hai Chính phủ tham vấn nhằm thỏa thuận sửa khoản này khi cần.
Phụ lục C: toàn bộ Điều 6 cũ về liên kết
Nếu doanh nghiệp một Nước tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, kiểm soát hoặc vốn doanh nghiệp Nước kia, hoặc cùng những người tham gia vào quản lý, kiểm soát hoặc vốn doanh nghiệp cả hai Nước, và điều kiện thương mại hay tài chính giữa họ khác điều kiện giữa hai doanh nghiệp riêng biệt hoàn toàn độc lập, lợi nhuận lẽ ra phát sinh cho một doanh nghiệp nhưng không phát sinh do điều kiện ấy có thể được tính vào lợi nhuận doanh nghiệp. Số tính là lợi nhuận lẽ ra doanh nghiệp riêng biệt làm cùng hoặc tương tự hoạt động đạt được khi giao dịch hoàn toàn độc lập với bên kia hoặc doanh nghiệp độc lập khác.
Lợi nhuận được tính thêm theo khoản 1 được coi thu nhập doanh nghiệp từ nguồn tại Nước đó và chịu thuế tương ứng. Nếu thông tin không đủ xác định lợi nhuận lẽ ra phát sinh cho mục đích khoản 1, điều này không ảnh hưởng luật xác định thuế bằng cân nhắc hoặc ước tính; phải phù hợp nguyên tắc điều này trong phạm vi thông tin cho phép.
Phụ lục C: toàn bộ Điều 7 cũ về vận tải
Thuế tại một Nước đối với lợi nhuận người cư trú Nước kia thu từ vận hành tàu biển, ngoài lợi nhuận hành trình hay hoạt động chỉ giữa các địa điểm Nước thứ nhất, không được vượt một nửa số thuế lẽ ra phải nộp nếu không có khoản này. Người cư trú một Nước được miễn tại Nước kia đối với lợi nhuận vận hành máy bay, ngoài chuyến bay chỉ giữa các địa điểm Nước kia.
Miễn, giảm khoản 1, 2 cũng áp dụng phần lợi nhuận vận hành tàu biển, máy bay người cư trú thu qua tổ hợp, tổ chức khai thác vận tải chung hoặc cơ quan quốc tế, nhưng chỉ trong phạm vi phần lợi nhuận không thuộc hành trình, chuyến bay hoặc hoạt động chỉ giữa các địa điểm Nước kia. Với điều này, vận chuyển hành khách, gia súc, thư tín hay hàng được xếp tại một Nước để dỡ ở nơi khác trong cùng Nước, và với Australia còn tại Territory of Papua hoặc Trust Territory of New Guinea, là hành trình hoặc chuyến bay chỉ giữa các địa điểm Nước đó.
Phụ lục C: các khoản cũ của Điều 8, 9 và 10
Điều 8(5) cũ: khoản 1, 2, 4 không áp dụng nếu người hưởng lợi cổ tức cư trú một Nước có cơ sở thường trú tại Nước kia và phần nắm giữ tạo cổ tức gắn thực tế với hoạt động thương mại, kinh doanh qua cơ sở đó. Điều 9(3) cũ tương tự đối với khoản 1, 2 về lãi và khoản nợ tạo lãi. Hai khoản cũ này chưa có câu chuyển sang áp Điều 5 như bản sửa. Điều 9(5) cũ định nghĩa lãi là lãi và khoản có tính lãi từ trái phiếu, chứng khoán, giấy nợ hoặc mọi hình thức nợ, chưa loại lãi Điều 7(4).
Điều 10(3) cũ: tiền bản quyền là khoản trả mọi loại trong phạm vi đối giá dùng hoặc quyền dùng (a)(i) bản quyền, trừ bản quyền văn học, sân khấu, âm nhạc, nghệ thuật, bằng sáng chế, kiểu dáng hoặc mô hình, bản vẽ, công thức hoặc quy trình bí mật, nhãn hiệu hay tài sản, quyền tương tự, hoặc (a)(ii) thiết bị công nghiệp, thương mại hay khoa học; hoặc (b) cung cấp thông tin về kinh nghiệm công nghiệp, thương mại hay khoa học. Không gồm tiền bản quyền hay khoản trả về vận hành mỏ, mỏ đá, khai thác tài nguyên, hoặc đối giá dùng hay quyền dùng phim điện ảnh, băng phát thanh, phim hay băng video cho truyền hình. Điều 10(4) cũ loại khoản 1, 2 khi người hưởng lợi có cơ sở thường trú tại Nước kia và thông tin, quyền hoặc tài sản tạo tiền gắn thực tế với kinh doanh qua cơ sở đó; chưa có câu dẫn Điều 5.
Phụ lục C: toàn bộ Điều 17 cũ về nguồn
Khoản 1(a): cổ tức công ty Australia trả được coi nguồn Australia tại Singapore; cổ tức công ty Singapore trả được coi nguồn Singapore tại Australia. (b) Cổ tức công ty Malaysia trả từ lợi nhuận nguồn Singapore được coi nguồn Singapore tại Australia. (c) Lợi nhuận người cư trú một Nước từ chuyên chở bằng tàu biển, máy bay hành khách, gia súc, thư tín hoặc hàng xếp tại Nước kia, hoặc từ vận hành tàu biển hay máy bay tại Nước kia, được coi nguồn Nước kia. (d) Số được tính vào thu nhập chịu thuế tại một Nước của người cư trú Nước kia, theo luật Nước đánh thuế thứ nhất về kinh doanh bảo hiểm mọi hình thức hoặc thu nhập theo hợp đồng với người tiến hành tại Nước ấy kinh doanh phim do nước ngoài kiểm soát được coi nguồn Nước ấy. (e) Lương hưu do Chính phủ liên bang Australia, Chính phủ bang hoặc Chính phủ Singapore trả cho dịch vụ thi hành chức năng chính phủ được coi nguồn Australia hoặc Singapore tương ứng.
Khoản 2: lãi theo Điều 9 mà người cư trú một Nước nhận được coi nguồn Nước kia nếu Chính phủ hoặc người cư trú Nước kia trả, trừ khoản do người trả gánh khi kinh doanh qua cơ sở thường trú ở một nước ngoài Nước kia; hoặc nếu người không cư trú Nước kia trả nhưng khoản nợ do cơ sở thường trú của người trả tại Nước kia gánh. Khoản 3: với điều này Chính phủ một Nước nghĩa là Chính phủ Singapore hoặc cơ quan Singapore, và Chính phủ liên bang hay bang Australia hoặc cơ quan liên bang, bang.
Khoản 4: tiền bản quyền Điều 10 và khoản trả Điều 2(1)(k)(v), (vi) được coi nguồn Nước nơi kiến thức, trợ giúp, thông tin, quyền hoặc tài sản tạo khoản tiền được sử dụng. Khoản 5: tiền bản quyền về vận hành mỏ, mỏ đá hoặc nơi khai thác tài nguyên khác được coi nguồn Nước nơi có mỏ, mỏ đá hoặc nơi khai thác.
Phụ lục C: toàn bộ Điều 18 cũ và Điều 20(2) cũ
Điều 18(1) cũ: theo luật Australia tại từng thời điểm về khấu trừ thuế đã trả ngoài Australia, không ảnh hưởng nguyên tắc chung, thuế Singapore đã trả trực tiếp hoặc khấu trừ trên thu nhập nguồn Singapore của người cư trú Australia, trừ thuế trên lợi nhuận dùng trả cổ tức, được khấu trừ vào thuế Australia đối với khoản đó. Khoản 2: công ty Australia hưởng lợi ít nhất 10% vốn cổ phần đã góp của công ty Singapore được giảm thuế, theo luật Australia có tại ngày ký, theo thuế suất bình quân công ty phải trả đối với cổ tức công ty Singapore trả được tính vào thu nhập chịu thuế.
Khoản 3(a): cho mục đích khoản 1 và luật Australia, người cư trú Australia có lãi hoặc tiền bản quyền nguồn Singapore thuộc Điều 9, 10 được miễn, giảm theo Phần V, VI Economic Expansion Incentives (Relief from Income Tax) Act 1967, hoặc quy định sau có bản chất về cơ bản tương tự mà hai Chính phủ trao đổi công hàm thỏa thuận, được coi đã trả thuế Singapore, hoặc tăng số đã trả, bằng số thuế Singapore lẽ ra phải trả nhưng được miễn, giảm. Khoản 3(b): số lãi, tiền bản quyền được coi là số lẽ ra có nếu không có thuế Singapore được trả, cộng số thuế lẽ ra phải trả mà được miễn, giảm. Khoản 4: khoản 3 không áp dụng thu nhập của năm thu nhập sau năm kết thúc 30/06/1974 hoặc ngày muộn hơn hai Chính phủ thỏa thuận bằng công hàm.
Khoản 5: theo luật Singapore về khấu trừ thuế nước ngoài, thuế Australia phải trả trực tiếp hoặc khấu trừ trên thu nhập nguồn Australia được khấu trừ vào thuế Singapore trên khoản đó. Nếu công ty Australia trả cổ tức cho công ty Singapore nắm trực tiếp hoặc gián tiếp không dưới 10% vốn cổ phần đã góp, khoản khấu trừ tính cả thuế Australia trên lợi nhuận công ty Australia ngoài thuế trên cổ tức.
Khoản 6: nếu lợi nhuận đã chịu thuế của doanh nghiệp một Nước cũng được tính vào lợi nhuận doanh nghiệp Nước kia theo hiệp định do hoàn cảnh giữa hai doanh nghiệp khiến lợi nhuận lẽ ra phát sinh cho doanh nghiệp Nước kia, khoản lợi nhuận thêm được coi, cho mục đích điều này, là lợi nhuận doanh nghiệp Nước thứ nhất từ nguồn Nước kia; áp dụng điều này để giảm thuế bổ sung đánh tại Nước kia do việc tính thêm.
Điều 20(2) cũ cho phép cơ quan hai Nước trực tiếp trao đổi để thực hiện, bảo đảm giải thích, áp dụng nhất quán hiệp định, đặc biệt cùng tham vấn giải quyết tranh chấp Điều 5(3) hoặc Điều 6. Dẫn chiếu 5(3) này thuộc phiên bản cũ, khác 5(2) trong thân đã sửa.
Biểu mẫu và tài nguyên chính thức
Các liên kết chính thức dưới đây sử dụng tiếng Anh.
