Mục lục bài viết
GIG v The Comptroller of Goods and Services Tax [2023] SGGST 2
Đây là phán quyết của Goods & Services Tax Board of Review (Hội đồng xem xét thuế hàng hóa và dịch vụ), GSTBR Appeal No 5 of 2021, ngày 29/12/2023. Thành viên: Ow Yong Tuck Leong, Themin Suwardy và Vincent Leow. Phần thông tin vụ án ghi [A] cho bên kháng cáo; Pang Mei Yu và Delvin Chua cho bên bị kháng cáo. Đoạn 27 giải thích [A] là giám đốc tự đại diện, không phải luật sư. Các bên là GIG và Comptroller of Goods and Services Tax (Cơ quan quản lý GST).
Nguồn là toàn bộ PDF 15 trang do Singapore Law Watch lưu trữ, có dấu bản quyền Government of Singapore, dạng in từ LawNet ngày 2/2/2024 lúc 7:24 AM. Nội dung là lý do quyết định trong vụ cụ thể, không phải hướng dẫn do IRAS phát hành; giữ các tên ẩn danh [GIG], [ZZZ] và ký hiệu khác như bản gốc.
1–2. Vấn đề và bối cảnh
Kháng cáo liên quan yêu cầu hoàn thuế đầu vào của [GIG]. Công ty cho rằng Comptroller đã từ chối sai vì nghi Missing Trader Fraud. Khó khăn thực tế là, ngoài khẳng định đơn thuần, rất ít chứng cứ cho thấy giao dịch xảy ra trong quá trình hoặc nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh. Vì thế gian lận, vốn được [GIG] nêu là vấn đề chính, chỉ còn vai trò thứ yếu. Hội đồng không thấy cơ sở kháng cáo và bác đơn; dưới đây là lý do.
[GIG] thành lập 19/4/2018; vào thời điểm liên quan được cho là kinh doanh bán buôn tổng hợp, cụ thể bộ xử lý máy tính.
3. Đủ năm giao dịch mua và tổng thuế đầu vào
[GIG] đòi 102.288,20 SGD thuế đầu vào cho năm lần mua bộ xử lý Intel Technology Asia Pte Ltd (Intel) được cho là từ [ZZZ], từ 27/7 đến 6/8/2018. [Chú thích 1–2]
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Ngày hóa đơn | Số hóa đơn | Giá trị hóa đơn SGD | GST SGD |
|---|---|---|---|
| 27/7/2018 | I-000419 | 297.000,00 | 20.790,00 |
| 31/7/2018 | I-000420 | 301.500,00 | 21.105,00 |
| 31/7/2018 | I-000421 | 280.760,00 | 19.653,20 |
| 2/8/2018 | I-000422 | 294.000,00 | 20.580,00 |
| 6/8/2018 | I-000426 | 288.000,00 | 20.160,00 |
| Tổng | 1.461.260,00 | 102.288,20 |
4–5. Đủ năm giao dịch bán và hoàn thuế ròng thông thường
[GIG] đồng thời khai doanh số thuế suất thông thường 281.580 SGD, thuế suất 0% 1.192.395 SGD và thuế đầu ra 19.710,60 SGD. Tới thời điểm phán quyết chưa trả thuế đầu ra. Giao dịch 0% đều với [TTT] thành lập tại Hong Kong SAR; giao dịch thông thường với [HHH]. Theo các con số đó, thông thường sẽ phát sinh hoàn ròng 82.577,60 SGD. [Chú thích 3–5]
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Ngày | Số hóa đơn | Khách hàng | Giá trị SGD | GST SGD |
|---|---|---|---|---|
| 27/7/2018 | INV/18/0727-01 | [TTT] | 300.055,00 | - |
| 31/7/2018 | INV/18/0731-01 | [TTT] | 304.460,00 | - |
| 31/7/2018 | INV/18/0731-02 | [HHH] | 281.580,00 | 19.710,60 |
| 2/8/2018 | INV/18/0802-01 | [TTT] | 297.000,00 | - |
| 6/8/2018 | INV/18/JN080601 | [TTT] | 290.880,00 | - |
6–8. Các quyết định và kháng cáo
Thư 28/8/2020 thông báo từ chối vì nghi ngờ hoạt động buôn hàng được nêu có giao dịch kinh doanh thực. [GIG] xin review and revision ngày 24/9/2020. Notice of Comptroller’s Decision 4/5/2021 giữ quan điểm không cho thuế đầu vào với hàng được cho là mua từ [ZZZ] và vô hiệu các giao dịch 0% tương ứng. [GIG] gửi Notice of Appeal ngày 25/5/2021. [Chú thích 6–9]
9–10. Quy định GST Act được trích trong phán quyết
Vấn đề pháp lý chính theo trình bày hai bên là có đáp ứng điều kiện luật định để khấu trừ thuế đầu vào không. Hội đồng dẫn Goods and Services Tax Act (Cap.117A, Rev Ed2005), điều19(1)–(3),20(1)–(2). Điều19(1): người chịu thuế phải hạch toán và trả thuế cho giao dịch của mình theo các kỳ do Bộ trưởng quy định, tại thời điểm và cách thức theo regulations; có thể quy định khác nhau cho hoàn cảnh khác nhau. Điều19(2), tùy điều19: cuối kỳ được ghi có phần thuế đầu vào được phép theo điều20 rồi khấu trừ khỏi thuế đầu ra đến hạn.
Điều19(3), tùy khoản4: input tax là thuế đối với hàng/dịch vụ cung cấp cho người chịu thuế và thuế đã trả/phải trả khi nhập khẩu hàng; trong cả hai trường hợp, hàng/dịch vụ được dùng hoặc sẽ dùng cho hoạt động kinh doanh đang hoặc sẽ do người đó thực hiện. Output tax là thuế trên các giao dịch người chịu thuế thực hiện. Bản trích dùng dấu lược bỏ ở những phần không dẫn.
Điều20(1): phần thuế đầu vào trong kỳ (đối với cung cấp và nhập khẩu trong kỳ) được ghi có cuối kỳ là phần được regulations hoặc theo regulations cho phép quy cho giao dịch thuộc khoản2. Khoản2 nói giao dịch người chịu thuế đã/sẽ thực hiện trong quá trình hoặc nhằm thúc đẩy kinh doanh, gồm (a) taxable supplies và (b) cung cấp ngoài Singapore mà nếu thực hiện ở Singapore sẽ là taxable supplies, với các dấu lược bỏ như nguồn. Đoạn10 nhấn mạnh liên hệ mục đích kinh doanh trong cả19(3)(a)(i) và20.
11–16. Hóa đơn, kinh doanh có thực chất và lịch sử nghị viện
Regulation61(2)(a) Goods and Services Tax (General) Regulations (Cap117A.RG1.2008RevEd), đọc cùng10(1) và11, yêu cầu tại lúc khấu trừ phải giữ chứng từ theo regulation10: tax invoice mô tả đủ để xác định hàng/dịch vụ và loại cung cấp. Vì vậy [GIG] phải chứng minh thực tế cung cấp bộ xử lý Intel vì mục đích kinh doanh và đúng hàng mô tả trong hóa đơn. Đoạn12 in các số I-00419, I-00420, I-00421, I-00422, I-00426; bảng đoạn3 lại có thêm số0 (I-000419...). Giữ riêng hai cách viết của nguồn, không tự thay mã bảng.
Hội đồng chấp nhận “business” phải hợp pháp và có thực chất kinh tế. Dẫn Richard Hu Tsu Tau tại lần đọc hai GST Bill, Official Report19/3/1993,tập60,cột1540: GST nhằm giúp Singapore cạnh tranh hơn trong kinh doanh; đánh giá tác động GST12/10/1998,tập69,cột1137 nói gánh GST phân bố rộng/đều giữa các hoạt động kinh tế. Hội đồng hiểu GST đánh vào hoạt động kinh doanh hợp pháp; trung gian không tham gia hoạt động đó không có cơ sở xin hoàn đầu vào.
Dẫn Second Minister for Finance Lawrence Wong tại lần đọc hai GST(Amendment)Bill,3/11/2020,tập95: doanh nghiệp IRAS thấy tham gia Missing Trader Fraud bị từ chối đầu vào vì không đáp ứng điều kiện, các khoản mua không phải giao dịch kinh doanh thực. Hội đồng sau đó xem chứng cứ, không coi phát biểu nghị viện là tự động chứng minh [GIG] gian lận.
17–18(b). Chứng cứ ban đầu của [GIG]
Thay vì đưa nhiều chứng cứ riêng, [GIG] tập trung phê bình chứng cứ Comptroller. Nhân chứng duy nhất của công ty là giám đốc duy nhất [A]. Bản tuyên thệ của ông ít chi tiết, không giải thích bối cảnh/cách thức/lý do giao dịch. Căn cứ chính là [TTT] đã viết yêu cầu bảo hành một lô hàng, mà ông cho là chứng minh mua và xuất khẩu thật. Căn cứ thứ hai là nếu IRAS đòi thuế đầu ra thì phải trả 102.288,20 đầu vào vì đã thừa nhận giao dịch thật. [Chú thích10–11]
Đối chất, [A] nói chỉ mua từ [ZZZ], đã nhận [GIG] chính để làm bên xuất khẩu cho [ZZZ]. Không có quan hệ giao dịch trước với [HHH]/[TTT], đây đều là khách mới. [Chú thích12–13]
18(c)–(h). Đàm phán, giá và các dấu hiệu đáng ngờ
Đồng nghiệp [B] đàm phán với [HHH]/[TTT], rồi hỏi [C], giám đốc/cổ đông duy nhất [ZZZ], về hàng và giá; [GIG] báo [TTT] giá cộng1%. Mọi việc diễn ra rất nhanh trong ngày: 27/7/2018 [TTT] hỏi hàng Intel đã dùng, [GIG] tìm [ZZZ], các hóa đơn phát hành cùng ngày, nhận300.055 SGD từ[TTT] và trả[ZZZ]312.790 SGD cùng ngày, ngay trước khi giao tới Hong Kong SAR. [Chú thích14–17]
[A] nói có tìm báo giá Amazon để kiểm tra hợp lý nhưng không tìm được; không thử chức năng bộ xử lý, không chụp ảnh hàng. Lý do [ZZZ] không bán thẳng [TTT] là tài chính không đủ gánh GST. [A] chỉ tham gia ba giao dịch đầu, không muốn tiếp sau31/7/2018 vì thấy kiện gửi[ZZZ] đáng ngờ: bộ xử lý giá1.770 HKD trông giống hàng vừa giao lẽ ra giá300.000 SGD. Nhưng[N]/[J] bỏ tiền và yêu cầu hoàn tất; ông miễn cưỡng làm hai giao dịch cuối. [Chú thích18–22]
19–22. Tin nhắn, kiểm tra và sơ đồ chuỗi cung cấp
Tin WhatsApp tháng10/2018 giữa[A]/[C]/[B] nói tất cả các thương vụ do TC đưa, PO từ[TTT], hàng từ[ZZZ]. [A] xác nhận TC là[D]; trong báo cảnh sát18/9/2018 đã gọi[D] là ông chủ cả[TTT]/[ZZZ] và nói năm giao dịch này. Khi đối chất lại phủ nhận biết[D] là chủ[TTT], dù nhận là chủ[ZZZ], nói đã nhầm và chỉ báo điều mình thấy/cảm nhận. [Chú thích23–28]
Comptroller kiểm tra [GIG] khoảng tháng10/2018 trong điều tra nghi Missing Trader Fraud. Sơ đồ đoạn21: [DDD] → [ZZZ] → [GIG], rồi rẽ hai nhánh tới Hong Kong SAR:[TTT] và Singapore:[HHH]. Chuỗi được xác định bằng đối chiếu hóa đơn[GIG]→[HHH]/[TTT], [ZZZ]→[GIG] và[DDD]→[ZZZ] theo ngày, số tiền và số lượng hàng.
23(a). Nhà cung cấp [ZZZ]
[C] là giám đốc/cổ đông duy nhất; ông khai lập[ZZZ] theo chỉ thị[D], người kiểm soát thật, và làm theo[D] hoặc bạn[D] là[E] khi[D] vắng. [ZZZ] thường mua/bán CPU nối tiếp; khách Hong Kong SAR gửi email[E]/[C] đặt số lượng, [E] xác nhận hàng rồi chỉ giá và bên mua. Đơn thường hoàn tất trong vài giờ, trả trong ngày; giá trị lớn nhưng không hợp đồng viết với bên mua/bán, không kiểm tra hoạt động hoặc ghi số sê-ri.
Khoảng7/2018 [A] tìm cơ hội kinh doanh, [C] giới thiệu[E]. [E] sắp xếp[A] nhận[GIG]. [E]/[D] chỉ thị[C], rồi[C] hướng dẫn[GIG] mua/bán, quyết định nhà cung cấp[ZZZ] và khách[TTT]/[HHH] cho từng giao dịch. [Chú thích29]
23(b)–24. Các bên còn lại thượng nguồn và hạ nguồn
[DDD] có cổ đông/giám đốc duy nhất[E], nhưng Comptroller không tìm/liên lạc được vì ông không ở Singapore nên thiếu thông tin chi tiết nhà cung cấp. Bảng mua cho thấy93% yêu cầu đầu vào trước đây từ[MMM], còn lại[NNN]/[PPP]; cả[NNN]/[PPP] phủ nhận từng bán cho[DDD]. Chứng cứ còn gợi ý[C]/[E] luân chuyển tiền Singapore–Indonesia rồi trở lại.
[MMM] có giám đốc/cổ đông duy nhất[F], người khai chỉ đứng tên hộ (nominee), lập công ty theo[E]; giao dịch, ký và giao hàng gồm processors đều theo[E]. Nguồn hàng không rõ, dù có hóa đơn[PPP]/[NNN]/[QQQ] tổng22.989.724 SGD; cả ba phủ nhận quan hệ với[MMM].
[HHH] có giám đốc/cổ đông duy nhất[S], được người gọi là[G] nhờ lập công ty; xem ảnh ông nhận[G] là[E]. [S] không điều hành hàng ngày, để hoàn toàn cho[G], chỉ ký giấy theo chỉ thị và không biết cụ thể giao dịch[HHH]–[GIG]. Hồ sơ công ty Hong Kong SAR cho thấy[TTT] cũng có giám đốc/cổ đông duy nhất[E] tại thời điểm liên quan. [Chú thích30–31]
25. Đủ bốn phần chứng cứ về giao dịch thứ sáu
Ngày16/8/2018 có giao dịch Intel thứ sáu mà[GIG] nói bị hủy. Theo hóa đơn,[TTT] đặt497.900 SGD,[GIG] đặt[ZZZ]527.467,20 gồm GST34.507,20. [TTT] trả497.900 cùng ngày, nhưng[GIG] không trả[ZZZ]; [A] chuyển tiền sang tài khoản cá nhân ngày16/8 bằng séc498.620 đề ngày15/8/2018. Bản gốc in hai số497.900 và498.620 khác nhau, được giữ nguyên. [Chú thích32–33]
[ZZZ] dường như không phản đối chưa trả, dù được nói đã giao[GIG] rồi[TTT]. Ngày21/8[TTT] hỏi vì sao nhận hàng “counterfeit”. Thư trao đổi luật sư thể hiện dàn xếp:[GIG] trả[ZZZ]300.000 ngoài30.000 đã trả;[ZZZ] chịu bảo hành mà[GIG] đã hứa với[TTT]/[HHH] cho cả sáu giao dịch. Đồng thời WhatsApp[D] đe dọa[A] trả lại tiền;[A] báo cảnh sát nhiều lần. Không có giải thích vì sao hợp lý khi không trả[ZZZ] mà chuyển tiền cho mình. [Chú thích34–36]
26–31. Tra cứu Intel và lập trường của hai bên
Chuẩn bị kháng cáo, Comptroller hỏi Intel, được dẫn danh mục chính thức ark.intel.com. Tra cứu cho thấy nhiều mẫu trong hóa đơn[DDD]→[ZZZ] không tồn tại; chỉ so được nhóm này vì hóa đơn[ZZZ]→[GIG] hoặc[GIG]→[TTT]/[HHH] thiếu mô tả. Comptroller còn nói các mẫu đã ngừng sản xuất không thể có giá bán đã nêu.
[GIG] không có luật sư, giám đốc[A] đại diện nên được nhiều khoảng linh hoạt trình bày. Hội đồng hiểu lập luận là Comptroller sai khi nói không có hàng thật/Missing Trader Fraud và tin các nhân chứng không đáng tin/không phù hợp.
Comptroller nêu hai căn cứ: không kinh doanh thực; không có cung cấp hàng đúng hóa đơn. Dấu đỏ gồm thời điểm và cách dừng giao dịch, mua/bán nối tiếp, vai trò trung gian thừa của[GIG], mọi việc do[E] sắp đặt, giao dịch thứ sáu và yêu cầu bảo hành đáng ngờ. Không cần chứng minh[GIG] gian lận/thiếu trung thực. [GIG] chưa chứng minh hàng được cung cấp thật cả hai chiều; tra Intel còn bác tính xác thực hàng thượng nguồn. [Chú thích37]
32–37. Gánh nặng và tiêu chuẩn chứng minh
Điều52(3) GST Act đặt lên bên kháng cáo nghĩa vụ chứng minh quyết định review/revision theo49 sai. [GIG] phải chứng minh từ chối đầu vào là sai. Điều80(4) Income Tax Act1947 có quy định tương tự; PQR v Comptroller of Income Tax,Singapore[1961]MLJ273 khi xét tiền thân điều này nói người nộp thuế phải chứng minh ấn định thêm quá cao; không tự làm chứng là lựa chọn của họ. Trích Federal Commissioner of Taxation v Clarke,p251,Isaacs A-G CJ: nghĩa vụ đó hợp lý vì cơ quan thường chỉ biết điều học được từ người nộp, người hiểu công việc riêng; tùy hoàn cảnh chứng minh dễ hoặc khó.
[GIG] không thật sự tranh nghĩa vụ này; đại diện nhận phải ít nhất có prima facie case rồi phản bác chứng cứ Comptroller. Hội đồng bác việc buộc Comptroller chứng minh Missing Trader Fraud mới được từ chối; dẫn GHY[2023]SGGST1,[68]–[69]. Trên balance of probabilities (khả năng xảy ra cao hơn), [GIG] phải chứng minh điều kiện khấu trừ, hàng đúng hóa đơn thật sự được cung cấp cho mình để kinh doanh: (i)[ZZZ] thực cấp cho[GIG],(ii)[GIG] thực cấp[TTT]/[HHH],(iii)các giao dịch trong quá trình/nhằm thúc đẩy kinh doanh[GIG]. [Chú thích38]
Chỉ nói đã trả GST đầu ra không tự tạo quyền đầu vào. Ngay cả là nạn nhân gian lận và đã trả GST vẫn không có quyền hoàn nếu hàng chưa thực cấp hoặc không cho kinh doanh của mình; ví dụ Customs and Excise Commissioners v Pennystar Ltd[1996]STC163.
38–42. Tốc độ giao dịch và thiếu chứng cứ kinh doanh
Hội đồng xác định[GIG] không chứng minh giao dịch phục vụ kinh doanh. Ngoài khẳng định trống, bản tuyên thệ[A] không có chi tiết thật về năm lần mua[ZZZ]/bán[TTT]/[HHH]. Điều đó đáng lo khi năm giao dịch đầu tiên và duy nhất diễn ra trong11ngày, từng giao dịch mua/bán nối tiếp hoàn tất từ đầu tới cuối cùng ngày.
Buổi sáng khách hỏi lượng lớn Intel cũ;[GIG] mua[ZZZ], [ZZZ] mua[DDD] cùng ngày; hóa đơn, trả tiền khách→[GIG]→[ZZZ] cùng ngày. [C] nhận có điều đáng ngờ: nếu[E] biết khách Hong Kong thì xuất thẳng, không cần cho[A]/công ty khác hưởng lợi, có thể kiếm hơn. Hội đồng cũng bác lời nói gian lận quá phức tạp cho[E], người bị[GIG] gọi là gangster ít học, vì không có chứng cứ cho cáo buộc đó. [Chú thích39–40]
43–47. Lời khai đàm phán và độ tin cậy
[A] giải thích khi đối chất rằng khách tiếp cận qua email và đàm phán trực tiếp. Đó là hearsay (lời thuật lại), vì[B] làm mọi đàm phán nhưng không được gọi dù có thể làm chứng. Hội đồng dành chút linh hoạt vì[GIG] không có luật sư, nhưng quan trọng hơn không có tài liệu chứng minh email/đàm phán. Đây lẽ ra là chứng cứ chính nằm trong tay công ty; không nộp khiến Hội đồng kết luận chứng cứ không tồn tại.
Lời về đàm phán chỉ xuất hiện lúc đối chất, đáng lẽ có trong bản tuyên thệ chính, nên Hội đồng thấy có thể là giải thích nghĩ thêm sau. Chứng cứ đương thời trái lại cho thấy toàn bộ đã sắp đặt. Lời[C] không bị phản bác: [E] quyết định nhà cung cấp/khách rồi bảo[C] chỉ[GIG];[A] nhận biên lợi nhuận1% do[C] định. Hội đồng nhìn chung thấy[A] thiếu đáng tin vì không mạch lạc/nhất quán; khi tranh luận miệng[GIG] còn nhận[ZZZ] sắp đặt nhằm tài trợ GST. [Chú thích41–42]
48–51. Trung gian không đem giá trị thực và kiểm soát chung
[B] soạn giấy tờ[GIG] nhưng hỏi[C] cách phát hành PO/hóa đơn/delivery order. Quan hệ làm việc gần tự nó không sai, song[GIG] nhận giao dịch với[ZZZ] không độc lập ngang giá (arm’s length) và không cho thấy giá trị thực nào để gọi chuỗi giao dịch hợp pháp, nhất là đã sắp đặt.
Cùng lắm[GIG] tài trợ GST. Nhưng[A] thấy đáng ngờ, không trực tiếp tham gia sau1/8/2018; hai lần cuối do[N]/[J] tài trợ và[GIG] không hưởng lợi. Vai trò[N]/[J] không giải thích được đánh thẳng vào việc đây có phải kinh doanh hợp pháp[GIG]. Hội đồng nhận[E] kiểm soát[TTT]/[HHH], còn[ZZZ]/[DDD] do[E] và/hoặc[D] kiểm soát: [E] mua/bán giữa các công ty mình kiểm soát qua[GIG]. Không có lời giải thích có ý nghĩa cho cấu trúc đó; chứng cứ không cho thấy năm lần trong quá trình/nhằm thúc đẩy kinh doanh[GIG]. [Chú thích43–45]
52–56. Đánh giá giao dịch thứ sáu và dàn xếp bảo hành
Dù kết luận trên đủ giải quyết năm giao dịch, phiên nghe dành nhiều thời gian cho lần16/8/2018. [GIG] nói yêu cầu bảo hành chứng minh thật; Comptroller dùng lần này để nghi ngờ năm lần trước. Hội đồng đồng ý hoàn cảnh lần thứ sáu cho thấy các giao dịch không thực, nhất là cùng bên.
Dàn xếp phi thương mại: [ZZZ], dù nói đã giao hàng[TTT], bỏ khoảng200.000 SGD chưa trả mà không có lý do thỏa đáng cho[GIG] giữ tiền; còn nhận rủi ro bảo hành gần2triệu SGD bộ xử lý. Không giải thích vì sao[TTT]/[HHH] chuyển bảo hành sang bên khác thay[GIG] vốn là đối tác đã nhận đủ tiền. Khó hiểu[ZZZ] chịu như vậy nếu sáu giao dịch ban đầu thật.
Nói giao dịch “bị hủy” là sai theo chính lập trường[GIG]: đã nhận từ[ZZZ], giao[TTT], nhận tiền[TTT] và dàn xếp trả[ZZZ]. Cả hai chiều đã thực hiện theo lời công ty; không xin đầu vào cho số trả[ZZZ] củng cố nghi ngờ của Hội đồng. Chú thích48 còn bác cách giải thích khác trong closing submissions vì dựa trên sự việc không được đưa thành chứng cứ. [Chú thích46–48]
57–59. Giới hạn kết luận và quyết định bác
Đã chấp nhận căn cứ thứ nhất, Hội đồng không cần kết luận căn cứ thứ hai rằng thực ra không hề cung cấp Intel. Chỉ nhận xét thêm: không theo dõi tồn kho/sê-ri, không kiểm thử phần cứng/các hoạt động khác, hàng đều đã dùng, mẫu hóa đơn nhà cung cấp có thể không khớp Intel, tất cả làm tăng nghi ngờ hàng có tồn tại. Lời[GIG] nói các việc này không cần theo cách công ty khác làm không có chứng cứ trực tiếp và cũng không thuyết phục về khái niệm.
Cáo buộc Comptroller tạo điều kiện Missing Trader Fraud vì cho[YYY] (do[N]/[J] dùng) đăng ký GST không liên quan quyền hoàn đầu vào[GIG]; không có chứng cứ cho việc cố ý/vô ý hỗ trợ gian lận hoặc suy ra quyền hoàn.
Hội đồng bác kháng cáo vì chưa chứng minh đủ rằng thực cấp bộ xử lý trong quá trình/nhằm thúc đẩy kinh doanh[GIG]. Điều này KHÔNG phải kết luận[GIG] biết mà cố ý gian lận Comptroller: chưa rõ tự nguyện hay vô tình tham gia, hoặc có thực là Missing Trader Fraud không. Công ty đáng lẽ phải bảo vệ mình tốt hơn trước các dấu đỏ thay vì tiếp tục chỉ vì lợi nhuận trung gian.
60–64. Toàn bộ quyết định chi phí
Các bên không thỏa thuận chi phí nên nộp ý kiến viết. Comptroller xin80.000 SGD gồm disbursements khoảng14.205, tính20.000/ngày cho4ngày. Dẫn GEV[2022]SGGST1 mức35.000/ngày, GDY[2021]SGGST1 mức25.000, GHY[2023]SGGST1 mức15.000; xin tăng do nhiều việc thu thập chứng cứ và[GIG] kháng cáo phù phiếm/gây phiền, để nhắc người nộp cẩn trọng/trách nhiệm. [GIG] đề nghị20.000 tất cả vì số tranh chấp chỉ phần nhỏ GHY, phản đối phí photocopy quá cao.
Hội đồng dùng tiền lệ tham khảo nhưng xét riêng hoàn cảnh: vụ này pháp lý/thực tế ít phức tạp hơn, số tranh chấp thấp hơn đáng kể. Thừa nhận[GIG] ứng xử không phù hợp (đã cam kết với Hội đồng về phiên nghe và tương lai), nhưng thời gian thêm đã phản ánh qua4ngày, không tăng đơn giá ngày nữa. Phí photocopy không bất hợp lý. Mức12.500/ngày phù hợp; ấn định tổng chi phí tròn64.000 SGD gồm disbursements, có lợi cho Comptroller.
Chú thích chứng cứ 1–12
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Chú thích | Nguồn tham chiếu đầy đủ |
|---|---|
| 1 | Đoạn7 Agreed Statement of Facts (bản sự kiện đã thống nhất). |
| 2 | Đoạn9 bản sự kiện đã thống nhất. |
| 3 | Đoạn4 bản sự kiện đã thống nhất. |
| 4 | Đoạn5 bản sự kiện đã thống nhất. |
| 5 | Đoạn7 bản sự kiện đã thống nhất. |
| 6 | Đoạn12 bản sự kiện đã thống nhất. |
| 7 | Đoạn13 bản sự kiện đã thống nhất. |
| 8 | Đoạn14 bản sự kiện đã thống nhất. |
| 9 | Đoạn15 bản sự kiện đã thống nhất. |
| 10 | Trang2 affidavit of evidence-in-chief (tuyên thệ chứng cứ chính) của[A]. |
| 11 | Trang3 tuyên thệ chứng cứ chính[A]. |
| 12 | Biên bản14/9/2023,tr53,dòng22–25. |
Chú thích chứng cứ 13–24
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Chú thích | Nguồn tham chiếu đầy đủ |
|---|---|
| 13 | Biên bản14/9/2023,tr51,d24 đến tr52,d1. |
| 14 | Biên bản14/9/2023,tr55,d25 đến tr57,d21 và tr103,d4–10. |
| 15 | Biên bản14/9/2023,tr98,d13–19. |
| 16 | Biên bản14/9/2023,tr80,d20 đến tr81,d25. |
| 17 | Tuyên thệ chứng cứ chính bà[L],tr935–936. |
| 18 | Biên bản14/9/2023,tr65,d3–6 và tr182,d10–18. |
| 19 | Biên bản14/9/2023,tr104,d7–11. |
| 20 | Báo cảnh sát23/8/2018,tài liệu001 trong tuyên thệ[A]; biên bản14/9/2023,tr225,d22 đến tr226,d6 và tr227,d9–11. |
| 21 | Biên bản14/9/2023,tr222,d11 đến tr223,d15. |
| 22 | Biên bản14/9/2023,tr50,d3–12 và tr225,d7 đến tr227,d11. |
| 23 | Tuyên thệ bà[L],tr425. |
| 24 | Biên bản14/9/2023,tr111,d5–8. |
Chú thích chứng cứ 25–36
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Chú thích | Nguồn tham chiếu đầy đủ |
|---|---|
| 25 | Tuyên thệ bà[L],tr291. |
| 26 | Biên bản14/9/2023,tr115,d12 đến tr116,d21. |
| 27 | Biên bản14/9/2023,tr116,d13–17. |
| 28 | Biên bản14/9/2023,tr227,d1–3 và tr229,d8–9. |
| 29 | Đoạn9 tuyên thệ[C]; biên bản15/9/2023,tr56,d13 đến tr57,d3. |
| 30 | Đoạn44 tuyên thệ[S] đọc cùng đoạn92 tuyên thệ bà[L]. |
| 31 | Tuyên thệ bà[L],tr905–921. |
| 32 | Biên bản14/9/2023,tr200,d7–17. |
| 33 | Biên bản14/9/2023,tr202,d2–3; tuyên thệ bà[L],tr942/952. |
| 34 | Biên bản14/9/2023,tr203,d2–14; tuyên thệ bà[L],tr145. |
| 35 | Biên bản14/9/2023,tr206,d2–18 và tr207,d23 đến tr208,d16; tuyên thệ bà[L],tr163–167. |
| 36 | Tuyên thệ bà[L],tr957–999. |
Chú thích chứng cứ 37–48
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Chú thích | Nguồn tham chiếu đầy đủ |
|---|---|
| 37 | Đoạn19 Respondent’s Closing Submissions (ý kiến kết thúc bên bị kháng cáo). |
| 38 | Biên bản28/11/2023,tr45,d15–18. |
| 39 | Biên bản15/9/2023,tr58,d20–22,tr59,d21 đến tr60,d2 và tr66,d1–10. |
| 40 | Biên bản14/9/2023,tr9,d22–24. |
| 41 | Biên bản14/9/2023,tr70,d10–12 và biên bản28/11/2023,tr51,d1–11. |
| 42 | Biên bản28/11/2023,tr40,d20 đến tr41,d18. |
| 43 | Hội đồng lưu ý[GIG] khi tranh luận miệng tìm rút lại bằng cách nói[A] quá đa nghi, nhưng điều đó chưa được khai thành chứng cứ: biên bản28/11/2023,tr53,d7–25 và tr80,d15–18. |
| 44 | Biên bản28/11/2023,tr52,d21–24. |
| 45 | Biên bản28/11/2023,tr164,d8 đến tr167,d22. |
| 46 | Biên bản28/11/2023,tr74,d17 đến tr75,d21. |
| 47 | Biên bản28/11/2023,tr154,d16 đến tr156,d10. |
| 48 | Để đầy đủ, Hội đồng bác lập trường[GIG] trong closing submissions về tính chất giao dịch thứ sáu vì dựa trên sự việc chưa có trong chứng cứ: biên bản28/11/2023,tr71,d6 đến tr72,d12. |
Biểu mẫu và tài nguyên chính thức
Các liên kết chính thức dưới đây sử dụng tiếng Anh.
- Singapore Law Watch: PDF đầy đủ phán quyết GIG [2023] SGGST 2 ↗
- Phán quyết GIG: liên kết gốc javascript:viewPageContent('/Decision/112994.xml')
Tham chiếu nội bộ trong bản gốc; không phải liên kết mở. - Phán quyết GIG: liên kết gốc javascript:actionFiltering('Coram','Ow Yong Tuck Leong')
Tham chiếu nội bộ trong bản gốc; không phải liên kết mở. - Phán quyết GIG: liên kết gốc javascript:actionFiltering('Coram','Themin Suwardy')
Tham chiếu nội bộ trong bản gốc; không phải liên kết mở. - Phán quyết GIG: liên kết gốc javascript:actionFiltering('Coram','Vincent Leow')
Tham chiếu nội bộ trong bản gốc; không phải liên kết mở. - Phán quyết GIG: liên kết gốc javascript:viewPageContent('/MLJ/34039-M.xml')
Tham chiếu nội bộ trong bản gốc; không phải liên kết mở. - Phán quyết GIG: liên kết gốc javascript:viewPageContent('/Decision/111994.xml')
Tham chiếu nội bộ trong bản gốc; không phải liên kết mở. - Phán quyết GIG: liên kết gốc javascript:viewPageContent('/Decision/109388.xml')
Tham chiếu nội bộ trong bản gốc; không phải liên kết mở. - Phán quyết GIG: liên kết gốc javascript:viewPageContent('/Decision/107297.xml')
Tham chiếu nội bộ trong bản gốc; không phải liên kết mở. - Intel: danh mục sản phẩm được phán quyết viện dẫn ↗
