Kết nối doanh nghiệp · Mở ra cơ hội · Hướng tới tương lai
WhatsApp
Zalo⌄
Mã QR Zalo của Hằng Tín

Quét mã để liên hệ qua Zalo. Nhấn để phóng to.

Di động: +65 8585 9090Email: info@acggroupsg.com

HƯỚNG DẪN TẠI SINGAPORE

DTA Singapore: tránh đánh thuế hai lần, MAP và trọng tài

Toàn bộ hướng dẫn IRAS 30/01/2026 về DTA: cư trú, cơ sở thường trú, từng loại thu nhập, khấu trừ thuế nước ngoài, quy trình MAP và hai phụ lục đầy đủ.

Mục lục bài viết
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần: phạm vi hướng dẫn IRAS 2026Vì sao có hai lần đánh thuế và hai loại DTA SingaporeChính sách DTA: chắc chắn về thuế và chống lạm dụngMLI sửa DTA khi nào và sửa những gìBa cách phân chia quyền đánh thuếNgười được hưởng, loại thuế và định nghĩaCư trú hai nơi: thứ tự cá nhân và quản lý thực tếCơ sở thường trú: địa điểm, hoạt động và ngoại lệBất động sản và lợi nhuận kinh doanhChú thích riêng: thỏa thuận Singapore–Australia từ 01/05/2018Vận tải quốc tế và doanh nghiệp liên kếtCổ tức, lãi và tiền bản quyềnPhí kỹ thuật, lãi vốn và dịch vụ cá nhân độc lậpThu nhập lao động, lương hưu và công vụCác điều riêng và thu nhập khác: REIT, SRSĐiều giới hạn giảm thuế LOR: chỉ thu nhập nguồn nước ngoàiLoại hai lần đánh thuế: khấu trừ thuế nước ngoài và miễn thu nhậpTrao đổi thông tin, MAP và kiểm tra mục đích chínhMAP là gì, ai nộp và ví dụ hai loại chi nhánhKhi nào nên xin MAP và thời hạn không được bỏ lỡTừ chối MAP, tham gia đàm phán và đủ bảy nghĩa vụ hợp tácMAP và tố tụng nội địa: không bảo đảm thỏa thuận, hai lựa chọn nộpRút đơn, dừng quy trình, xin tiếp tục và thu hồi thỏa thuậnSơ đồ bốn bước MAP: đủ các mốc trong hìnhBước 1: thư điện tử, địa chỉ nhận và không thu phíBước 2: đánh giá hồ sơ và hai loại thư kết quảBước 3 và 4: mục tiêu 24 tháng, chấp nhận và thực hiệnĐơn MAP bảo lưu thời hạn: đủ bốn điều kiện và cách khởi xétĐại diện, danh tính, bảo mật và kiểm tra thuếTrọng tài: bế tắc MAP, thời gian và tính ràng buộcĐiều kiện xin trọng tài: đủ bốn tiêu chíChú thích 12: ngày MLI có hiệu lực cho vụ MAPChú thích 14: bảo lưu loại trừ trọng tài đầy đủCách yêu cầu trọng tài và hai phương thức quyết địnhCAA về trọng tài: đủ 12 nhóm nội dungHướng dẫn riêng từng DTA, liên hệ và đủ lịch sử sửa đổiPhụ lục A: đủ chín nhóm thông tin tối thiểu khi xin MAPPhụ lục B: mẫu thư ủy quyền đủ trường và phạm vi trao đổi

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần: phạm vi hướng dẫn IRAS 2026

Hướng dẫn Avoidance of Double Taxation Agreements — các hiệp định tránh đánh thuế hai lần, DTA — của IRAS, ấn bản thứ tư ngày 30/01/2026, gồm 34 trang, giải thích việc diễn giải và áp dụng DTA Singapore cùng Thủ tục thỏa thuận chung, MAP. Hữu ích khi giao dịch xuyên biên giới hoặc đầu tư tại nơi có DTA với Singapore. Ba bản trước ngày 11/10/2017, 15/06/2018 và 23/10/2021.

Các DTA Singapore gần đây phần lớn dựa Công ước mẫu thuế thu nhập và vốn OECD, MTC, với điều chỉnh. Có thể tham khảo bình luận OECD được cập nhật từng thời kỳ, nhưng DTA Singapore có khác biệt với mẫu; các điểm chính được Singapore phản ánh trong phần quan điểm các nền kinh tế ngoài OECD. Đối tác không phải lúc nào cũng diễn giải giống Singapore; bài trình bày cách hiểu của IRAS trong nguyên bản chính thức.

Người yêu cầu lợi ích DTA thường cần giấy chứng nhận cư trú thuế chứng minh là cư dân Singapore hoặc bên DTA kia. Nếu bị đánh thuế hai lần hoặc cho rằng áp hiệp định sai, có thể xin cơ quan thuế của mình hoặc IRAS hỗ trợ theo điều MAP. Mỗi DTA có câu chữ riêng: các nguyên tắc điển hình dưới đây phải được đọc cùng đúng hiệp định liên quan, không tự áp ví dụ một đối tác cho tất cả.

Nguồn nêu giới hạn trách nhiệm IRAS đối với nội dung không chính xác/không đủ, truyền tải, quyết định hoặc thiệt hại khi dựa tài liệu. Trừ nội dung có hiệu lực pháp luật cụ thể, thông tin là hướng dẫn chung, không bao quát mọi vấn đề; quan điểm có thể đổi khi luật/thực hành đổi. Bản gốc thuộc quyền tác giả IRAS, yêu cầu phép bằng văn bản cho sao chép/truyền tải/lưu truy xuất như thông báo nguồn.

↑ Mục lục bài viết

Vì sao có hai lần đánh thuế và hai loại DTA Singapore

Các hệ thống thuế có phần giống nhau nhưng khác đáng kể. Khác biệt có thể ở định nghĩa thu nhập; cơ sở thuế/phạm vi với người không cư trú; cư trú thuế; tính số thu nhập; tái phân loại hoặc coi sự kiện là phát sinh; thời điểm ghi nhận thu nhập/chi phí; thuế suất; ưu đãi phát triển kinh tế; chứng cứ/hồ sơ; khiếu nại và giải quyết tranh chấp.

Đánh thuế hai lần về mặt pháp lý là cùng thu nhập bị đánh tại nơi phát sinh và nơi nhận. Đánh thuế hai lần về mặt kinh tế có thể phát sinh khi hai nơi áp quy tắc đưa thu nhập vào và khấu trừ chi phí khác nhau cho cùng giao dịch kinh tế.

Người ở A đầu tư/giao dịch với người ở B có thể bị đánh ở cả hai theo nguyên tắc không thống nhất, mà luật A chưa chắc giảm đủ, gây cản trở thương mại/đầu tư. Ngay cả A cho giảm đủ, thiếu DTA theo chuẩn quốc tế vẫn gây bất định. DTA giúp hài hòa, hợp lý hóa kết quả thuế và thể hiện tuân chuẩn quốc tế để hỗ trợ thương mại/đầu tư, đồng thời hỗ trợ trao đổi thông tin và giải quyết tranh chấp giữa cơ quan thuế.

Singapore có DTA toàn diện bao phủ mọi loại thu nhập và DTA hạn chế chỉ bao phủ vận tải biển và/hoặc hàng không. Có thể xem toàn văn trên IRAS; hướng dẫn này giải thích mục đích, điều khoản phổ biến, lợi ích và cách tránh/giải quyết tranh chấp.

↑ Mục lục bài viết

Chính sách DTA: chắc chắn về thuế và chống lạm dụng

Singapore coi thương mại/đầu tư quan trọng cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu. DTA tăng minh bạch thông tin, chắc chắn vị thế thuế và loại hai lần đánh thuế, giảm chi phí kinh doanh. Ba chức năng được nguồn nêu là hài hòa kết quả quốc tế; khuyến khích đầu tư nước ngoài bằng chắc chắn xử lý giao dịch xuyên biên giới; tạo diễn đàn đối thoại/hợp tác giữa cơ quan thuế.

IRAS coi ký DTA là cam kết ràng buộc thiện chí của hai bên để điều chỉnh phù hợp so với luật nội địa nhằm tăng quan hệ kinh tế. Lợi ích và mục đích DTA vượt ngoài riêng thuế. Không được lạm dụng hiệp định cho cấu trúc nhân tạo không có mục đích thương mại; lời mở đầu theo MLI nhấn mạnh không tạo cơ hội không chịu thuế hoặc giảm thuế bằng trốn/tránh thuế.

↑ Mục lục bài viết

MLI sửa DTA khi nào và sửa những gì

Singapore ký Công ước đa phương thực hiện biện pháp liên quan hiệp định thuế để chống xói mòn cơ sở thuế/chuyển lợi nhuận, MLI, ngày 07/06/2017. Đây là cách triển khai nhanh đề xuất hiệp định của dự án OECD/G20 BEPS, có điều khoản bắt buộc và tùy chọn mà bên ký có thể bảo lưu.

Mỗi bên chọn DTA muốn sửa. Chỉ sửa nếu cả hai cùng chọn hiệp định đó, và chỉ trong phạm vi cả hai đồng ý, tức không bảo lưu điều tùy chọn liên quan. Thay đổi chỉ có hiệu lực sau khi cả hai phê chuẩn MLI theo thủ tục nội địa. Không phải mọi DTA Singapore đều sửa, vì nhiều lý do gồm đối tác không tham gia đàm phán MLI. Danh sách và thay đổi câu chữ được công bố trên IRAS, cùng văn bản dưới Luật Thuế thu nhập 1947.

  • Lời mở đầu mới: loại đánh thuế hai lần nhưng không tạo cơ hội không/giảm thuế qua trốn/tránh thuế.
  • Kiểm tra mục đích chính, PPT, để từ chối lợi ích DTA trong trường hợp lạm dụng.
  • Ở một số DTA, cho người nộp thuế yêu cầu trọng tài khi cơ quan có thẩm quyền không đạt thỏa thuận MAP trong thời gian quy định.

↑ Mục lục bài viết

Ba cách phân chia quyền đánh thuế

Nơi cư trú là nơi người nhận thu nhập cư trú; nơi nguồn là nơi thu nhập phát sinh. DTA có thể hạn chế quyền đánh thuế đầy đủ theo luật nơi nguồn vì lý do ngoài tài khóa như thu hút đầu tư. DTA thường không hạn chế nơi cư trú đánh thuế cư dân của mình, nhưng buộc giảm hai lần đánh thuế đối với thuế nước ngoài trả đúng DTA.

Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.

Cách phân chiaHệ quả
Chỉ một bênThu nhập chỉ chịu thuế ở một bên, bên kia từ bỏ quyền.
Cả hai, nơi nguồn bị giới hạnNơi nguồn không vượt thuế suất/mức quy định; nơi cư trú giảm cho thuế trả ở nơi nguồn theo DTA.
Cả hai, không giới hạn nơi nguồnHai bên có thể đánh; nơi cư trú giảm thuế trả tại nơi nguồn để loại hai lần đánh.

↑ Mục lục bài viết

Người được hưởng, loại thuế và định nghĩa

DTA Singapore luôn giới hạn cư dân Singapore và cư dân đối tác; người không cư trú cả hai không được hưởng. LLP và LP Singapore được đối xử xuyên thấu về thuế nên bản thân không là cư dân thuế; thành viên có thể là cư dân nếu đủ tiêu chí Singapore. Tín thác Singapore tương tự không có địa vị cư trú; người nhận ủy thác chịu thuế thu nhập tín thác có thể đủ cư trú theo luật Singapore.

Điều loại thuế nói thuế thu nhập và vốn; đối với Singapore là thuế thu nhập. GST, thuế quan và thuế tiêu thụ đặc biệt ngoài DTA. Thuế giống hệt hoặc tương tự đáng kể mà một bên đặt sau ký có thể cũng được bao phủ; gặp thuế nước ngoài tương tự nhưng chưa ghi DTA có thể viết hỏi IRAS.

Điều định nghĩa giải thích thuật ngữ phổ biến. Thuật ngữ không định nghĩa thường mang nghĩa theo luật thuế nội địa tại thời điểm áp dụng của bên liên quan cho các loại thuế DTA, trừ khi ngữ cảnh đòi hỏi khác.

↑ Mục lục bài viết

Cư trú hai nơi: thứ tự cá nhân và quản lý thực tế

Cư trú DTA là chịu thuế theo luật nội địa vì nơi ở pháp lý, cư trú, quản lý hoặc tiêu chí tương tự. Singapore dùng điều 2 Luật Thuế thu nhập; IRAS có tiêu chí cư trú và thủ tục xin giấy chứng nhận. Nếu cả hai bên cùng coi là cư dân, áp quy tắc phân định của đúng DTA.

Với cá nhân, xét lần lượt: nơi có nhà ở thường xuyên sẵn dùng; nơi quan hệ cá nhân và kinh tế gần hơn; nơi thường xuyên sinh sống; quốc tịch. Nếu vẫn không xác định được, DTA thường để cơ quan có thẩm quyền hai bên thỏa thuận. Chú thích 1 định nghĩa cơ quan có thẩm quyền là người được chỉ định thực hiện chức năng cụ thể theo DTA.

Với người không phải cá nhân, nguyên tắc nêu trong hướng dẫn là cư trú duy nhất nơi quản lý thực tế: nơi thực chất đưa ra các quyết định quản lý và thương mại chủ chốt cần cho toàn hoạt động pháp nhân. Thường tương tự kiểm tra quản lý/kiểm soát trung tâm của công ty theo luật Singapore. Một số DTA thêm câu cho cơ quan hai bên bàn khi không xác định nơi quản lý thực tế.

↑ Mục lục bài viết

Cơ sở thường trú: địa điểm, hoạt động và ngoại lệ

Cơ sở thường trú, PE, là nơi kinh doanh cố định qua đó doanh nghiệp tiến hành toàn bộ hoặc một phần hoạt động, thường gồm nơi quản lý, chi nhánh, văn phòng, nhà máy, xưởng, nơi khai thác tài nguyên. Tùy DTA, các hoạt động trong bảng có thể tạo PE theo sự hiện diện hoặc mức hoạt động.

Một số hoạt động tự thân không tạo PE, như chỉ dùng cơ sở để lưu kho, trưng bày hoặc giao hàng theo ngoại lệ được đúng hiệp định liệt kê. Đặc biệt nơi cố định chỉ làm hoạt động hoặc tổ hợp hoạt động mang tính chuẩn bị/phụ trợ cho kinh doanh không được coi là PE.

Khái niệm PE xác định mức hiện diện/liên hệ đủ để nơi nguồn đánh lợi nhuận của doanh nghiệp không cư trú. Có PE thì lợi nhuận quy thuộc PE chịu thuế tại đó; phần lợi nhuận còn lại không quy thuộc PE chỉ chịu ở nơi cư trú.

Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.

Hoạt động có thể tạo PEĐiều kiện nguồn nêu
Công trường/dự án xây dựng, lắp ráp, lắp đặtKéo dài vượt thời gian DTA quy định.
Giám sát liên quan công trường/dự ánKéo dài vượt thời gian quy định.
Dịch vụ gồm tư vấn do doanh nghiệp qua nhân viênTiếp tục vượt thời gian quy định.
Đại lý phụ thuộc, không phải đại lý độc lậpCó và thường xuyên thực hiện quyền chung đàm phán/ký hợp đồng thay doanh nghiệp.
Làm việc tại nhà hoặc địa điểm không chính thức khácDoanh nghiệp dùng liên tục để kinh doanh, địa điểm thực tế được đặt dưới quyền sử dụng của doanh nghiệp.

↑ Mục lục bài viết

Bất động sản và lợi nhuận kinh doanh

Thu nhập bất động sản như tiền thuê thường chịu thuế cả nơi có tài sản và nơi cư trú người nhận; nơi cư trú giảm cho thuế đã trả tại nơi có tài sản. Định nghĩa bất động sản trong điều khoản thường dẫn nghĩa luật nội địa.

Lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp nơi cư trú không chịu thuế nơi nguồn trừ khi qua PE tại nơi nguồn. Khi có PE, nơi nguồn có quyền đánh mọi lợi nhuận quy thuộc PE như doanh nghiệp độc lập, theo nguyên tắc giao dịch độc lập; được trừ chi phí quy thuộc hợp lý, theo quy tắc khấu trừ ở nơi nguồn.

Một số DTA cũ loại thu nhập quản lý và/hoặc dịch vụ cá nhân khỏi định nghĩa lợi nhuận doanh nghiệp, nên phải xét điều khác. Ví dụ DTA Singapore–Pakistan xét dịch vụ theo điều 13 phí kỹ thuật, điều 15 dịch vụ cá nhân hoặc điều 22 thu nhập khác. Chú thích 2 nêu dạng câu chữ này có ở DTA với Australia, Pakistan và Thụy Điển.

↑ Mục lục bài viết

Chú thích riêng: thỏa thuận Singapore–Australia từ 01/05/2018

Theo chú thích 2, hai cơ quan thỏa thuận áp các điều DTA Singapore–Australia từ 01/05/2018 theo bốn điểm dưới đây. Đây là ví dụ hiệp định cụ thể, không thay câu chữ các DTA khác.

  • Loại trừ khỏi “lợi nhuận doanh nghiệp Singapore/Australia” ở điều 2(1)(k)(iii) chỉ áp thu nhập thuộc điều 11.
  • Cá nhân có thu nhập dịch vụ cá nhân, gồm chuyên môn, dù tự làm hay nhân viên làm, áp điều 11(1); bên ký có quyền đánh nếu dịch vụ thực hiện tại đó.
  • Người không phải cá nhân, như công ty, cung cấp dịch vụ qua nhân viên/nhân sự khác: thu nhập là lợi nhuận doanh nghiệp, áp điều 4 và 5; bên ký chỉ đánh nếu việc cung cấp tạo PE theo điều 4 tại đó.
  • Điều 12(1) áp cho thù lao người lao động.

↑ Mục lục bài viết

Vận tải quốc tế và doanh nghiệp liên kết

Điều vận tải biển/hàng không thường cho miễn toàn bộ hoặc một phần thuế nơi nguồn đối với lợi nhuận doanh nghiệp cư trú bên kia từ vận hành tàu/máy bay trong giao thông quốc tế, gồm hoạt động liên quan trực tiếp hoặc phụ trợ. Thường áp người vận hành quốc tế cư trú một trong hai bên.

Doanh nghiệp liên kết hai nơi phải giao dịch theo nguyên tắc độc lập; hướng dẫn IRAS Transfer Pricing Guidelines — định giá giao dịch liên kết — có chi tiết. Chú thích 3: khi giá giữa các bên không độc lập, cơ quan thuế có thể thay bằng giá giữa các bên không liên quan; phần thay là điều chỉnh giá chuyển nhượng.

Nếu một bên điều chỉnh giao dịch/dàn xếp với doanh nghiệp bên kia, bên kia có nghĩa vụ điều chỉnh tương ứng cho doanh nghiệp mình nếu đồng ý điều chỉnh có căn cứ theo nguyên tắc độc lập. Hai cơ quan có thể tham vấn để xử lý hai lần đánh thuế kinh tế.

Dù một số DTA thiếu điều điều chỉnh tương ứng, IRAS sẽ nhận yêu cầu hỗ trợ theo MAP, nhưng còn phụ thuộc cơ quan nước ngoài nhận. Chú thích 4 nói điều điều chỉnh tương ứng là điều tương đương khoản 2 điều 9 OECD MTC.

↑ Mục lục bài viết

Cổ tức, lãi và tiền bản quyền

Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.

LoạiQuy tắc điển hình và ngoại lệ
Cổ tứcNguồn thường là nơi công ty trả cổ tức cư trú. Khi chủ hưởng lợi cư trú bên kia, nơi nguồn thường giới hạn đánh thuế, thường qua khấu trừ tại nguồn. Một số DTA miễn khi trả bên chỉ định hoặc theo dàn xếp chỉ định; phải xem hiệp định cụ thể.
LãiNguồn thường nơi người trả cư trú, hoặc nơi PE/cơ sở cố định gánh lãi. Thường giới hạn thuế nguồn khi chủ hưởng lợi cư trú bên kia, thường khấu trừ tại nguồn. Một số DTA miễn khi trả ngân hàng/tổ chức tài chính bên cư trú hoặc bên chỉ định khác, hay theo dàn xếp chỉ định.
Định nghĩa lãiTheo đúng DTA. Khoản trả hợp đồng phái sinh nhìn chung không là lãi; có thể xét lợi nhuận kinh doanh hoặc thu nhập khác tùy sự kiện/hoàn cảnh.
Tiền bản quyềnNguồn thường nơi người trả cư trú, hoặc nơi PE/cơ sở cố định gánh khoản trả. Thường giới hạn thuế nguồn nếu chủ hưởng lợi cư trú bên kia, thường khấu trừ tại nguồn; một số DTA miễn theo bên/dàn xếp chỉ định.
Định nghĩa tiền bản quyềnTheo DTA; một số hiệp định coi tiền dùng/quyền dùng thiết bị công nghiệp, thương mại hoặc khoa học, thường gọi thu nhập cho thuê thiết bị, là tiền bản quyền.

↑ Mục lục bài viết

Phí kỹ thuật, lãi vốn và dịch vụ cá nhân độc lập

Một số DTA cho đánh phí dịch vụ kỹ thuật tại nơi nguồn, thường bằng thuế khấu trừ có mức trần. Thường không áp loại khấu trừ này nếu cung cấp qua PE tại nơi nguồn. Loại dịch vụ và phạm vi thuế theo đúng DTA. Singapore nói nhìn chung không đề xuất điều này vì thuế trên tổng phí bỏ qua chi phí cung cấp và dễ đánh quá mức; nhưng nếu hiệp định có thì doanh nghiệp nên tính chi phí đó khi kinh doanh tại nơi liên quan.

Điều lãi vốn xử lý bán/định đoạt tài sản vốn như bất động sản và cổ phần. Thường lãi bất động sản và tài sản kinh doanh có thể chịu thuế nơi tài sản nằm; lãi cổ phần chỉ ở nơi cư trú, có thể có ngoại lệ theo DTA.

Cá nhân làm chuyên môn hoặc hoạt động độc lập thường có thể chịu thuế nơi nguồn nếu qua cơ sở cố định tại đó, tương tự PE, hoặc dịch vụ tại đó vượt thời gian quy định, thường tương ứng thời gian PE dịch vụ doanh nghiệp. Ví dụ bác sĩ, luật sư, kỹ sư, kiến trúc sư, nha sĩ và kế toán.

↑ Mục lục bài viết

Thu nhập lao động, lương hưu và công vụ

Thu nhập việc làm, ngoài lương hưu, thù lao giám đốc và công vụ, thường có thể chịu thuế nơi thực hiện việc làm. Tuy nhiên chỉ chịu ở nơi cư trú cá nhân nếu đồng thời: thời gian làm tại nơi nguồn dưới ngưỡng DTA, thường 183 ngày trong bất kỳ 12 tháng; chủ lao động không cư trú nơi nguồn; và tiền không do PE/cơ sở cố định của chủ ở nơi nguồn trả hoặc gánh. Ngưỡng 183 là mô tả điển hình, không thay đúng hiệp định.

Lương hưu/thù lao tương tự thường thuộc quyền đánh duy nhất của nơi cư trú hoặc thuộc cả nơi cư trú và nguồn. Một số DTA quy định lương hưu/thù lao tương tự theo hệ thống an sinh một bên chỉ chịu thuế tại nơi phát sinh.

Nhân viên chính phủ làm tại nước ngoài thường được miễn thuế nơi làm đối với thù lao chính phủ trả nếu đủ điều kiện. Nếu nhân viên cư trú nước ngoài đó và là công dân nơi đó, hoặc không trở thành cư dân chỉ vì làm công vụ, thù lao chỉ chịu tại nước ngoài đó. Phải đồng thời có cư trú và ít nhất một trong hai điều kiện sau. Nếu chủ tuy nhà nước sở hữu nhưng đang kinh doanh thì không hưởng miễn theo điều công vụ; áp điều dịch vụ cá nhân phụ thuộc.

↑ Mục lục bài viết

Các điều riêng và thu nhập khác: REIT, SRS

DTA thường có điều riêng phân quyền cho thù lao giám đốc, người biểu diễn/thể thao, sinh viên và người học việc kinh doanh. Điều thu nhập khác/không được nêu rõ áp các nguồn chưa xử lý ở điều khác; có thể cho nơi nguồn đánh hoặc nơi cư trú đánh với ngoại lệ, tùy hiệp định.

Ví dụ ngoại lệ gồm phân phối từ quỹ tín thác đầu tư bất động sản REIT và rút tài khoản chương trình hưu trí bổ sung SRS, trừ khi đã thuộc điều khác. Chú thích 5: phân phối REIT thuộc điều cổ tức của DTA Singapore–Tây Ban Nha, Singapore–Anh, Singapore–Nga theo nghị định thư ký 17/11/2015; điều cổ tức Singapore–Đức bao phủ phân phối từ quỹ tín thác đầu tư, gồm REIT.

↑ Mục lục bài viết

Điều giới hạn giảm thuế LOR: chỉ thu nhập nguồn nước ngoài

Một số DTA cũ hoặc đàm phán lại từ DTA cũ có LOR, chỉ cho lợi ích DTA của cư dân Singapore đối với thu nhập nguồn nước ngoài đã nhận tại Singapore. IRAS coi điều này lỗi thời, cản đầu tư vì buộc hồi hương lợi nhuận bất kể lý do kinh tế, không có lợi cho cả hai nơi, và sẽ tiếp tục yêu cầu bỏ khi có thể. Quan điểm muốn bỏ không có nghĩa các điều còn tồn tại đã tự hết hiệu lực.

Nếu DTA có LOR, nó chỉ áp thu nhập được coi nguồn nước ngoài theo luật Singapore. Thu nhập từ kinh doanh tiến hành tại Singapore là nguồn Singapore dù người trả ở ngoài hoặc công việc làm ngoài Singapore. Thuế Singapore cho loại thu nhập kinh doanh này không phụ thuộc nhận tiền tại Singapore và LOR không áp.

↑ Mục lục bài viết

Loại hai lần đánh thuế: khấu trừ thuế nước ngoài và miễn thu nhập

Nơi cư trú có nghĩa vụ giảm hai lần đánh thuế do nơi nguồn đánh đúng DTA, thường theo luật nội địa bằng khấu trừ số thuế nước ngoài đã nộp hoặc miễn thu nhập nguồn nước ngoài. Singapore theo DTA thường cung cấp khấu trừ thuế đã trả đối tác đúng hiệp định, gồm khấu trừ thuế cơ sở của cổ tức nước ngoài.

Chú thích 6: khấu trừ thuế cơ sở liên quan số thuế công ty trả cổ tức đã trả trên lợi nhuận dùng phân phối cổ tức cho cổ đông. Khấu trừ cho cư dân thuế Singapore áp dù khoản thu nhập bị đánh tại Singapore được luật Singapore coi nguồn Singapore hay nước ngoài, miễn thuế nước ngoài đã trả đúng DTA.

Chú thích 7: người không cư trú có PE, như chi nhánh, ở Singapore không được khấu trừ này vì không là cư dân Singapore; có thể xin ở nơi mình cư trú. Một lựa chọn khác theo Luật Thuế thu nhập 1947 là miễn thu nhập nguồn nước ngoài nếu đáp ứng điều kiện miễn, khi đó không cần yêu cầu khấu trừ cho khoản thu nhập đó.

↑ Mục lục bài viết

Trao đổi thông tin, MAP và kiểm tra mục đích chính

Điều trao đổi thông tin cho đối tác trao thông tin phục vụ thuế, thường không giới hạn các thuế hoặc người thuộc DTA. Có thể tra chi tiết trên IRAS. Một số DTA có trọng tài bắt buộc ràng buộc do đàm phán song phương hoặc MLI phần VI; chi tiết nằm ở các điều MAP/trọng tài và văn bản của đúng hiệp định.

PPT từ chối lợi ích DTA trong lạm dụng khi có thể kết luận hợp lý rằng mục đích chính hoặc một mục đích chính của dàn xếp/giao dịch là hưởng lợi theo cách trái đối tượng/mục đích điều DTA liên quan.

Mục đích chính là vấn đề sự kiện: phải phân tích khách quan mục tiêu của mọi người tham gia và toàn bộ sự kiện/hoàn cảnh. Chỉ khi phân tích cho phép kết luận hợp lý có mục đích chính hưởng sai/lạm dụng mới có thể dùng PPT để từ chối. Không chỉ nhìn hệ quả; nên xét mọi hoàn cảnh. Khi dàn xếp gắn hoạt động thương mại cốt lõi và hình thức không tạo dựng giả, sẽ không hợp lý để kết luận một mục đích chính là lấy lợi ích DTA.

↑ Mục lục bài viết

MAP là gì, ai nộp và ví dụ hai loại chi nhánh

Khi hai hay nhiều cơ quan thuế có quan điểm khác về DTA, có thể phát sinh thuế không đúng hiệp định. Cư dân thuế Singapore có thể chọn cứu xét pháp lý tại nơi đánh thuế bị cho sai và/hoặc đề nghị IRAS dùng Thủ tục thỏa thuận chung MAP.

MAP là cơ chế hòa giải giữa IRAS và cơ quan có thẩm quyền nước ngoài về áp DTA. Thường hai cơ quan nhưng có thể MAP đa phương với ba cơ quan trở lên. Kết quả cơ quan thống nhất, nếu người nộp thuế liên quan chấp nhận, ràng buộc các bên liên quan. Quy trình dưới đây dành vấn đề ngoài định giá giao dịch liên kết; vấn đề định giá xem hướng dẫn IRAS Transfer Pricing Guidelines.

MAP dành người nộp thuế cư trú Singapore và người không cư trú có chi nhánh Singapore. Với nhóm sau, người nộp thuế phải nộp ở nơi cư trú có DTA với Singapore. Ví dụ công ty nước ngoài xin cơ quan nơi mình cư trú MAP cho chi nhánh Singapore; chi nhánh phải báo IRAS. Công ty cư trú Singapore có chi nhánh nước ngoài có thể xin IRAS MAP về thuế chi nhánh ở nơi có DTA. Chú thích 9 dẫn các điều MAP của DTA trên IRAS.

↑ Mục lục bài viết

Khi nào nên xin MAP và thời hạn không được bỏ lỡ

Chỉ nên khởi MAP khi đánh thuế không đúng DTA đã xảy ra, chắc chắn hoặc rất có khả năng; không chỉ khả năng như vừa có kiểm tra thuế. Có thể xin giải quyết vấn đề lặp nhiều năm, theo thời hạn hiệp định.

Nên nộp trong hạn điều MAP của đúng DTA, ví dụ ba năm; không đúng hạn sẽ bị cơ quan có thẩm quyền từ chối. Điểm bắt đầu tùy điều khoản và cách thu thuế, ví dụ ngày thông báo ấn định thuế, hoặc ngày yêu cầu chính thức nộp thuế khấu trừ khi không có thông báo ấn định.

Quy trình tốn thời gian/nguồn lực cả người nộp và IRAS. Nên chỉ xin khi: hai lần đánh thuế chắc chắn/rất có khả năng cho các năm xin; có cơ sở vững và hồ sơ đủ chứng minh áp DTA sai; có nguồn lực hỗ trợ MAP; đã phân tích sâu lợi ích/chi phí để đánh giá phù hợp.

Vẫn có thể tiếp cận MAP dù đã chấp nhận hoặc quyết định chấp nhận thỏa thuận thuế với IRAS/nước ngoài. Tuy nhiên có thể khó cho hai cơ quan đàm phán kết quả khác thỏa thuận đã được người nộp chấp nhận.

↑ Mục lục bài viết

Từ chối MAP, tham gia đàm phán và đủ bảy nghĩa vụ hợp tác

IRAS có thể từ chối, như nộp ngoài hạn hiệp định; có thể giải thích lý do, người nộp tìm biện pháp khác theo luật thuế nội địa. Đàm phán là giữa các cơ quan, người nộp không tham gia hoặc dự quan sát trừ khi được gọi làm rõ.

Thành công đòi hợp tác/cam kết. Người nộp nên thực hiện đủ bảy điểm sau. Thiếu hợp tác có thể khiến đơn bị bác, quy trình ngừng hoặc hai cơ quan không đạt đồng thuận; lúc đó phải dựa cứu xét nội địa để giảm đánh thuế hai lần.

  • Thiện chí suốt quá trình.
  • Tuân mọi yêu cầu của việc xin MAP.
  • Cho tiếp cận toàn hồ sơ liên quan.
  • Chủ động cung cấp thông tin đầy đủ, tin cậy và phân tích tốt.
  • Giữ mọi thời hạn cung cấp giải thích, thông tin, phân tích được IRAS/cơ quan nước ngoài yêu cầu.
  • Kịp thời cập nhật IRAS mọi thông tin đã đưa cho hoặc nhận từ cơ quan nước ngoài liên quan.
  • Cung cấp cùng một bộ thông tin cho IRAS và cơ quan nước ngoài liên quan.

↑ Mục lục bài viết

MAP và tố tụng nội địa: không bảo đảm thỏa thuận, hai lựa chọn nộp

Không nên giả định IRAS luôn đạt thỏa thuận. Trở ngại có thể là thiếu hợp tác hoặc điều chỉnh không thể thay theo luật nội địa/đã được kết luận trong khiếu nại hay tố tụng. MAP không tước biện pháp cứu xét nội địa. Nếu vấn đề được xét xử khi MAP đang chạy, nên báo IRAS và cơ quan nước ngoài; hai cơ quan quyết định tiếp tục, dừng hay tạm ngưng. IRAS ít có khả năng đi khác kết luận của hội đồng/tòa Singapore đã xét.

MAP độc lập các biện pháp pháp lý nội địa, nhưng để tránh trùng công, IRAS bàn với bên kia có tạm ngưng khi đang cứu xét nội địa hay không. Người nộp nên cân nhắc nguồn lực và chọn MAP, cứu xét nội địa hoặc cả hai.

  • Nếu đang hoặc đã khởi cứu xét nội địa: có thể nộp MAP trong hạn DTA và đồng thời báo IRAS hoãn xét tới khi mình thông báo tiếp; đó là đơn MAP bảo lưu thời hạn.
  • Nếu còn cân nhắc cứu xét nội địa: có thể nộp MAP trong hạn để bắt đầu quy trình. Sau đó nếu chọn biện pháp nội địa, phải báo IRAS; hai cơ quan quyết định có tạm ngưng MAP hay không.

↑ Mục lục bài viết

Rút đơn, dừng quy trình, xin tiếp tục và thu hồi thỏa thuận

Người nộp không bị buộc chấp nhận kết quả hai cơ quan thống nhất; có thể rút đơn, chấm dứt quy trình hoặc từ chối kết quả. Nhưng vì tốn thời gian/nguồn lực đáng kể, không nên chấm dứt nếu thiếu lý do hợp lệ. Thiếu hợp tác bất cứ giai đoạn nào có thể làm IRAS dừng.

Nếu MAP đã dừng hoặc bị người nộp rút, muốn tiếp tục thì IRAS xét như yêu cầu mới, đánh giá nội dung và cả còn trong hạn DTA tại ngày nộp đủ thông tin/chi tiết xin tiếp tục hay không.

IRAS có thể thu hồi/hủy thỏa thuận MAP, kể cả hồi tố, khi gian lận, trình bày sai thông tin hoặc không tuân điều khoản/điều kiện thỏa thuận. Trước khi dừng quy trình hay hủy/thu hồi thỏa thuận, IRAS sẽ báo cơ quan nước ngoài ý định và lý do.

Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.

Ví dụ nguồnDiễn biếnKhi IRAS có thể dừng
Thiếu hỗ trợHai bên đã thống nhất hạn cung cấp hồ sơ; không nộp và kéo dài, IRAS sẽ coi người nộp đã rút.Không cung cấp trong vòng ba tháng sau hạn đã thống nhất.
Thiếu thông tin đầy đủNên kịp thời nộp mọi thông tin liên quan/trọng yếu có thể ảnh hưởng kết quả. Thiếu thông tin như vậy khiến IRAS cân nhắc dừng.Khi phát hiện chưa cung cấp thông tin trọng yếu đó.

↑ Mục lục bài viết

Sơ đồ bốn bước MAP: đủ các mốc trong hình

Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.

BướcNội dung trong hình
1 — Nộp đơnNgười nộp gửi IRAS trong hạn điều MAP của DTA.
2 — Đánh giáIRAS đánh giá và có thể liên hệ xin thêm. Nếu nhận, thư chấp nhận được phát hành trong một tháng từ ngày nhận đủ tất cả thông tin cần thiết.
3 — Xem xét và đàm phánIRAS báo kết quả trong một tháng từ khi các cơ quan đạt thỏa thuận.
4 — Thực hiệnNgười nộp và IRAS thực hiện kết quả MAP.

↑ Mục lục bài viết

Bước 1: thư điện tử, địa chỉ nhận và không thu phí

Khi chọn MAP, nên nộp trong hạn hiệp định. Không có mẫu đơn quy định; nên dùng thư chỉ ở dạng bản điện tử và kèm mọi chi tiết/tài liệu trong danh sách Phụ lục A.

Thư gửi Cơ quan có thẩm quyền, Bộ phận Thuế quốc tế và quan hệ, Cơ quan Thuế nội địa Singapore, 55 Newton Road, Revenue House, Singapore 307987. Có thể gửi điện tử tới email trong danh sách cơ quan có thẩm quyền Singapore trên IRAS. IRAS không thu phí nộp MAP.

↑ Mục lục bài viết

Bước 2: đánh giá hồ sơ và hai loại thư kết quả

IRAS sẽ xem xét/đánh giá; có thể xin làm rõ, thêm thông tin, họp hoặc thăm cơ sở và phỏng vấn nhân sự chủ chốt. IRAS sẽ báo cơ quan nước ngoài theo khung thống kê MAP và điều trọng tài phù hợp.

Nếu nhận, IRAS sẽ phát thư chấp nhận cho người nộp và cơ quan nước ngoài trong một tháng từ nhận đủ mọi thông tin. Nếu từ chối, báo cả hai bằng văn bản và nêu lý do. Chú thích 10 nêu khung thống kê nằm trong Khung bao trùm OECD/G20 BEPS, Hành động 14 làm cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả hơn.

↑ Mục lục bài viết

Bước 3 và 4: mục tiêu 24 tháng, chấp nhận và thực hiện

Sau nhận đơn, IRAS sẽ bàn với cơ quan nước ngoài để xử lý thuế không đúng DTA và cập nhật tiến độ/kết quả. Nhìn chung IRAS đặt mục tiêu giải quyết trong 24 tháng từ nhận đơn hoàn chỉnh; đây là mục tiêu, không bảo đảm hai cơ quan đạt kết quả mọi vụ.

Khi đạt thỏa thuận, IRAS sẽ thông báo bằng thư trong một tháng và hướng dẫn bước tiếp. Người nộp quyết định có chấp nhận hay không. IRAS sẽ không thực hiện trước khi người nộp chấp nhận và hai cơ quan trao thư xác nhận/đóng vụ. Sau chấp nhận, hai cơ quan có thể thực hiện kịp thời theo thủ tục nội địa.

Nếu có lãi hoặc phạt liên quan khoản thuế là đối tượng MAP, thỏa thuận có thể xử lý việc có nên hoàn các khoản đó hay không.

↑ Mục lục bài viết

Đơn MAP bảo lưu thời hạn: đủ bốn điều kiện và cách khởi xét

Đây là đơn nộp trong hạn DTA nhưng người nộp chỉ rõ hoặc đã thỏa thuận với IRAS chưa xét tới khi mình thông báo. Nó bảo vệ khỏi lỡ hạn trong lúc theo phương án khác như cứu xét nội địa. Phải đáp ứng đủ bốn điểm sau.

Sau chấp nhận, IRAS sẽ báo cơ quan nước ngoài và hoãn xét, gồm cả việc đơn có căn cứ hay không, tới thông báo tiếp. Khi yêu cầu bắt đầu xét, ví dụ biện pháp nội địa đã kết thúc hoặc rút, người nộp phải cập nhật kết quả các hành động từ khi nộp đơn bảo lưu để IRAS xem và bắt đầu quy trình bốn bước.

Nếu quyết định rút đơn bảo lưu, ví dụ đã chấp nhận cách giải quyết trong nước, phải báo IRAS ngay; IRAS sẽ báo cơ quan nước ngoài.

  • Nộp trong hạn điều MAP của DTA.
  • Cung cấp chi tiết Phụ lục A.
  • Nêu rõ IRAS nên hoãn xét đến khi người nộp thông báo tiếp.
  • Nêu lý do nộp đơn bảo lưu.

↑ Mục lục bài viết

Đại diện, danh tính, bảo mật và kiểm tra thuế

Nếu cử đại lý thuế/người đại diện làm việc về đơn MAP thì phải cung cấp thư ủy quyền LOA để IRAS có thể trao đổi/thảo luận với người được cử. Mẫu Phụ lục B ở cuối bài.

IRAS không nhận yêu cầu của đại lý khởi đàm phán cho khách muốn ẩn danh; người nghiêm túc xin MAP nên làm việc không che danh tính. Mọi thông tin trong MAP được bảo mật theo Luật Thuế thu nhập 1947 và DTA liên quan. MAP không ngăn IRAS kiểm tra người nộp nếu không tuân luật thuế Singapore.

↑ Mục lục bài viết

Trọng tài: bế tắc MAP, thời gian và tính ràng buộc

Trọng tài là con đường giải quyết vấn đề bế tắc trong MAP. Nếu theo điều trọng tài của đúng DTA, hai cơ quan không xử lý được trong thời gian quy định, thường hai hoặc ba năm từ ngày bắt đầu vụ MAP, hoặc thời gian hai cơ quan thống nhất và báo người nộp, người nộp có thể yêu cầu bằng văn bản đưa vấn đề còn tồn sang hội đồng trọng tài.

Hội đồng phải quyết định trong thời hạn quy định. Điều khoản Singapore thường coi quyết định chung thẩm và ràng buộc cơ quan có thẩm quyền, trừ khi người nộp không đồng ý hoặc chọn biện pháp nội địa khác tại Singapore/nước ngoài. Một số DTA còn quy định quyết định không ràng buộc và không được thực hiện nếu hai cơ quan thống nhất cách giải quyết khác cho tất cả vấn đề tồn trong ba tháng dương lịch sau khi nhận quyết định.

Chú thích 11: Singapore chọn trọng tài khi ký MLI; áp nếu đối tác cũng chọn cùng điều, hoặc có thể được thêm bằng đàm phán song phương. Chi tiết đúng hiệp định nằm trên IRAS.

↑ Mục lục bài viết

Điều kiện xin trọng tài: đủ bốn tiêu chí

Có thể gửi yêu cầu bằng văn bản cho vụ MAP chỉ nếu đồng thời đủ bốn tiêu chí sau; không phải mọi DTA hoặc mọi vụ MAP tự động đủ điều kiện.

  • Điều trọng tài bắt buộc ràng buộc đã có hiệu lực đối với vụ MAP.
  • Hai cơ quan không đạt thỏa thuận mọi vấn đề trong thời gian DTA quy định và chưa có thỏa thuận trước kéo dài riêng vụ đó. Nếu thống nhất thời gian khác sẽ báo người nộp; chú thích 13 còn cho biết thời gian có thể được gia hạn theo MLI 19(2), 19(3).
  • Vấn đề chưa giải quyết không bị loại khỏi trọng tài theo bảo lưu Singapore/đối tác ở MLI 28(2)(a), hoặc bảo lưu của DTA.
  • Chưa có phán quyết về vấn đề tồn của tòa hoặc hội đồng hành chính Singapore/đối tác. Chú thích 15: nếu phán quyết như vậy được đưa ra sau đó nhưng trước quyết định trọng tài, quy trình trọng tài sẽ chấm dứt.

↑ Mục lục bài viết

Chú thích 12: ngày MLI có hiệu lực cho vụ MAP

Điều trọng tài bắt buộc ràng buộc có hiệu lực đối với vụ MAP trình cơ quan có thẩm quyền vào hoặc sau ngày muộn nhất MLI có hiệu lực cho Singapore và đối tác. Với vụ trình trước ngày muộn nhất đó, Singapore bảo lưu chỉ cho đủ điều kiện trọng tài trong phạm vi hai cơ quan đồng ý vụ có thể được đưa sang trọng tài.

↑ Mục lục bài viết

Chú thích 14: bảo lưu loại trừ trọng tài đầy đủ

Theo MLI 28(2)(a), Singapore bảo lưu loại các vụ dưới đây khỏi trọng tài. Bảo lưu của Singapore hoặc đối tác theo MLI, hay theo DTA, còn được chi tiết hóa trong thỏa thuận giữa cơ quan có thẩm quyền CAA về trọng tài.

  • Vụ liên quan áp dụng quy tắc chống tránh thuế chung Singapore ở điều 33 Luật Thuế thu nhập 1947, án lệ hoặc học thuyết tư pháp, và mọi điều khoản về sau thay, sửa hoặc cập nhật các quy tắc này.
  • Khi đối tác bảo lưu theo quy định luật nội địa của họ: vụ liên quan áp luật Singapore tương tự các quy định nội địa đó, gồm các quy định Singapore về sau thay/sửa/cập nhật. Cơ quan Singapore sẽ tham vấn đối tác để chỉ rõ các quy định tương tự trong CAA giữa hai cơ quan.

↑ Mục lục bài viết

Cách yêu cầu trọng tài và hai phương thức quyết định

Người nộp phải gửi yêu cầu bằng văn bản tới cơ quan có thẩm quyền của bên ký nơi mình cư trú; phải đủ thông tin nhận diện vụ MAP. CAA về trọng tài có chi tiết. Với Singapore, địa chỉ là Cơ quan có thẩm quyền, Bộ phận Thuế quốc tế và quan hệ, IRAS, 55 Newton Road, Revenue House, Singapore 307987. Có thể nộp điện tử tới email trong danh sách cơ quan có thẩm quyền trên IRAS.

CAA nêu quy trình. Singapore chọn phương thức đề xuất cuối cùng theo MLI làm mặc định, nên DTA có trọng tài thường theo phương thức đó. Hai loại khác nhau như bảng sau.

Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.

Phương thứcCách quyết định
Đề xuất cuối cùng — final offerCơ quan Singapore và đối tác mỗi bên nộp một phương án; hội đồng chọn một phương án làm quyết định cuối.
Ý kiến độc lập — independent opinionHội đồng xét thông tin hai cơ quan cung cấp và nguồn pháp luật liên quan để đưa quyết định riêng.

↑ Mục lục bài viết

CAA về trọng tài: đủ 12 nhóm nội dung

Hai cơ quan có thẩm quyền phải kết luận CAA để quy định cách áp điều trọng tài bắt buộc ràng buộc. CAA đã kết luận sẽ được công bố làm phụ lục DTA trên IRAS. Nguồn nêu 12 nội dung rộng sau.

  • Cách yêu cầu đưa vụ sang trọng tài.
  • Thông tin tối thiểu để xét thực chất vụ.
  • Bổ nhiệm trọng tài viên.
  • Quy trình trọng tài.
  • Trao đổi thông tin và bảo mật.
  • Thủ tục hoạt động.
  • Chi phí.
  • Không truyền đạt quyết định trong thời gian yêu cầu.
  • Quyết định cuối cùng.
  • Thực hiện quyết định trọng tài.
  • Thời điểm điều trọng tài bắt buộc ràng buộc có hiệu lực.
  • Các vụ bị loại khỏi trọng tài.

↑ Mục lục bài viết

Hướng dẫn riêng từng DTA, liên hệ và đủ lịch sử sửa đổi

Trong MAP, IRAS có thể thống nhất diễn giải/áp dụng cụ thể với cơ quan nước ngoài. Để minh bạch và rõ cho người nộp, IRAS sẽ đánh giá có phù hợp công bố hướng dẫn từ các trao đổi đó hay không.

Để hỏi hoặc làm rõ tài liệu, nguồn nêu số IRAS 1800 356 8622 cho công ty, 1800 356 8300 cho cá nhân. Bảng dưới giữ lịch sử đúng ấn bản; nội dung lịch sử 2018 nói chú thích 3 khi ấy, còn phần Australia ở bản hiện tại nằm trong chú thích 2.

Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.

NgàyNội dung ghi trong nguồn
15/06/2018Cập nhật phần 6 thêm chú thích 3 về thỏa thuận 01/05/2018 Singapore–Australia diễn giải điều 2(1)(k)(iii), 4, 5, 11, 12; sửa biên tập nhỏ toàn văn.
23/10/2021Cập nhật phần 7 lúc đó về điều trọng tài trong DTA; bỏ dẫn DTA Hàn Quốc ở chú thích 2; sửa biên tập cho rõ.
30/01/2026Cập nhật phần 4 và 6 theo OECD MTC và bình luận 2025; cập nhật/sắp lại phần 7 về MAP, tách trọng tài thành phần riêng; sửa biên tập nhỏ khác.

↑ Mục lục bài viết

Phụ lục A: đủ chín nhóm thông tin tối thiểu khi xin MAP

  • 1. Tên, địa chỉ, mã định danh thuế, thông tin liên hệ và hoạt động kinh doanh chính của người nộp.
  • 2. Thư ủy quyền theo Phụ lục B về đại lý thuế hoặc người đại diện được cử, nếu có.
  • 3. DTA cụ thể, gồm điều và khoản người nộp cho là chưa được áp đúng.
  • 4. Sự kiện liên quan, tài liệu chứng minh, các năm/kỳ thuế và số tiền liên quan.
  • 5. Phân tích vấn đề, gồm cách người nộp diễn giải áp điều DTA cụ thể, để hỗ trợ nhận định áp sai; kèm tài liệu liên quan như bản sao ấn định thuế, kiểm tra của cơ quan thuế dẫn tới áp sai.
  • 6. Đã theo cứu xét nội địa như hội đồng thuế hoặc tòa ở nước ngoài hay chưa; nếu có phải cung cấp bản quyết định.
  • 7. Vấn đề tương tự đã/đang được xem trong phán quyết trước, thỏa thuận giá trước, thỏa thuận dàn xếp hoặc thủ tục tương tự, hay bởi hội đồng/tòa hay không; nếu có nên đưa bản phán quyết/quyết định khi liên quan và có sẵn.
  • 8. Cách đã thể hiện vấn đề trong tờ thuế thu nhập Singapore, ví dụ chưa đưa thu nhập vào chịu thuế hoặc đã yêu cầu khấu trừ thuế nước ngoài.
  • 9. Tuyên bố mọi thông tin/hồ sơ cung cấp chính xác và sẽ giúp cơ quan có thẩm quyền giải quyết bằng kịp thời đưa mọi thông tin/tài liệu khác được yêu cầu.

↑ Mục lục bài viết

Phụ lục B: mẫu thư ủy quyền đủ trường và phạm vi trao đổi

Ghi chú mẫu: thư được in trên giấy có tiêu đề của người nộp thuế. Điền ngày; gửi Bộ phận Thuế quốc tế và quan hệ, IRAS, 55 Newton Road, Singapore 307987; dòng lưu ý cán bộ IRAS phụ trách nếu đã có. Thư mở lời kính gửi và tiêu đề “Thư ủy quyền — đơn Thủ tục thỏa thuận chung của [tên người nộp thuế]”.

Nội dung mẫu: chúng tôi đã cử [đại lý thuế/người đại diện, tên và liên hệ] thay mặt giải quyết mọi việc liên quan đơn nêu trên; cho phép IRAS liên hệ người đó bằng thư, điện thoại, phương tiện điện tử như email và các cách khác về mọi việc của đơn. Cuối thư là lời trân trọng, tên người ký, chức danh người ký và tên người nộp. Dấu sao yêu cầu bỏ lựa chọn đại lý/người đại diện không phù hợp.

Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.

Vị trí mẫuThông tin phải điền
Đầu thưNgày; giấy tiêu đề người nộp; cán bộ IRAS nếu có.
Tiêu đềTên người nộp xin MAP.
Người được cửChọn đại lý thuế hoặc người đại diện; tên và thông tin liên hệ.
Phạm viMọi việc liên quan đơn; trao đổi thư, điện thoại, điện tử/email...
Cuối thưTên người ký; chức danh; tên người nộp.

↑ Mục lục bài viết

Biểu mẫu và tài nguyên chính thức

Các liên kết chính thức dưới đây sử dụng tiếng Anh.

Liên hệ tư vấn
Liên hệ tư vấn