Mục lục bài viết
Phạm vi và phiên bản hướng dẫn GST cho ngành bảo hiểm
Bài trình bày toàn bộ nội dung nghiệp vụ của hướng dẫn IRAS dành cho ngành bảo hiểm, bản thứ mười công bố ngày 30/01/2026. Tên tệp vẫn ghi bản thứ năm, nhưng trang xuất bản của chính tài liệu xác định bản thứ mười. Hướng dẫn áp dụng cho sản phẩm bảo hiểm, phí, khoản thu và hoa hồng của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, đại lý, môi giới và các trung gian bảo hiểm.
Tài liệu này thay thế hướng dẫn IRAS về ngành bảo hiểm bản thứ tư ngày 01/10/2012, như chú thích 1 nêu. Các phần dưới đây lần lượt giải thích hoạt động bảo hiểm, tái bảo hiểm, trung gian, hóa đơn, tự lập hóa đơn thay nhà cung cấp, hai bảng tổng hợp và hai mẫu chứng từ. IRAS lưu ý hướng dẫn nhằm giúp hiểu nghĩa vụ thuế, không bao quát mọi vấn đề có thể phát sinh; nội dung có hiệu lực pháp luật phải được phân biệt với thông tin giải thích và quan điểm có thể thay đổi theo luật, thực tiễn.
Nguyên tắc chung và sự khác nhau giữa hoạt động và hợp đồng nhân thọ
Thông thường, việc doanh nghiệp bảo hiểm đã đăng ký GST ở Singapore cung cấp hợp đồng bảo hiểm là cung ứng dịch vụ chịu thuế. Phí bảo hiểm chịu thuế suất thông thường hiện hành; chú thích 2 của bản hướng dẫn này xác định là 9%. Khi dịch vụ đủ điều kiện thuế suất 0% theo diện dịch vụ quốc tế hoặc thuộc diện miễn GST, phí bảo hiểm không bị thu GST.
Trong Luật Bảo hiểm, hoạt động bảo hiểm nhân thọ và hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ mô tả phạm vi hoạt động được giấy phép cho phép. Hai khái niệm này không đồng nghĩa với hợp đồng nhân thọ và hợp đồng phi nhân thọ. Doanh nghiệp hoạt động nhân thọ có thể phát hành cả hợp đồng nhân thọ lẫn bảo hiểm sức khỏe, tai nạn dài hạn. Đối với GST, chỉ phí phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được miễn theo quy định tương ứng; không phải mọi hợp đồng do doanh nghiệp nhân thọ phát hành đều được miễn.
Tự tính GST đối với dịch vụ nhập khẩu và hàng giá trị thấp
Từ 01/01/2020, doanh nghiệp bảo hiểm đã đăng ký GST mua dịch vụ từ nhà cung cấp nước ngoài có thể phải áp dụng cơ chế tự tính GST khi không được khấu trừ toàn bộ thuế đầu vào, hoặc thuộc nhóm GST không được khấu trừ toàn bộ. Doanh nghiệp phải hạch toán GST đối với mọi dịch vụ nhập khẩu như thể chính mình là nhà cung cấp, trừ các dịch vụ được loại trừ cụ thể khỏi cơ chế. Khoản GST tương ứng có thể được khấu trừ đầu vào theo các quy tắc thu hồi thuế đầu vào thông thường.
Từ 01/01/2023, cơ chế mở rộng sang việc mua hàng nhập khẩu giá trị thấp, trừ hàng được quy trực tiếp cho các cung ứng chịu thuế. Yêu cầu bao gồm việc mua từ nhà cung cấp trong nước hoặc nước ngoài, sàn giao dịch điện tử và đơn vị chuyển tiếp hàng, bất kể họ có đăng ký GST hay không.
Chú thích 3 giới hạn ngoại lệ hàng quy trực tiếp cho cung ứng chịu thuế: ngoại lệ chỉ áp dụng cho doanh nghiệp không bị ấn định tỷ lệ thu hồi đầu vào cố định hoặc công thức đặc biệt áp dụng cho tất cả khoản thuế đầu vào. Có thể xem hướng dẫn IRAS về cơ chế tự tính GST để tìm hiểu chi tiết.
Bảo hiểm nhân thọ: miễn thuế, quyền lợi bổ sung và khách hàng nước ngoài
Việc cung cấp hoặc chuyển quyền sở hữu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được miễn GST theo đoạn 1(l), Phần I, Phụ lục thứ tư của Luật GST. Sự miễn trừ không mở rộng sang môi giới hoặc dịch vụ sắp xếp bán hợp đồng nhân thọ; chú thích 4 dẫn sang phần trung gian bảo hiểm.
Hợp đồng nhân thọ được hiểu theo định nghĩa hợp đồng nhân thọ trong Luật Bảo hiểm, chẳng hạn hợp đồng hỗn hợp, hợp đồng liên kết đầu tư và bảo hiểm trọn đời. Phí hợp đồng, phí quản trị chỉ mang tính phụ trợ cho việc cung cấp hợp đồng nhân thọ cũng có thể được miễn. Hợp đồng tai nạn cá nhân hoặc y tế dài hạn không thuộc định nghĩa nhân thọ thì không đủ điều kiện miễn, dù doanh nghiệp nhân thọ phát hành.
Mọi quyền lợi bổ sung phi nhân thọ gắn với hợp đồng nhân thọ cá nhân hiện được xem là phụ trợ cho hợp đồng chính. Vì thế toàn bộ phí hợp đồng nhân thọ cá nhân, kể cả quyền lợi tai nạn, sức khỏe hoặc phi nhân thọ khác kèm theo, được miễn. Ngược lại, hợp đồng nhân thọ nhóm có quyền lợi y tế và tai nạn cá nhân chỉ được miễn phần phí nhân thọ.
Hợp đồng nhân thọ ký với người thuộc ngoài Singapore và trực tiếp đem lại lợi ích cho người thuộc ngoài Singapore có thể được áp dụng 0% theo Điều 21(3)(j). Đối với hoạt động nhân thọ ngoài nước, bảo hiểm cung cấp cho người thuộc ngoài Singapore có thể được áp dụng 0%. Tuy nhiên, ưu đãi hành chính cho phép xử lý là miễn thuế, thay vì 0%, nếu nghiệp vụ ngoài nước đủ điều kiện được xếp là nghiệp vụ trong nước theo hướng dẫn MAS. Chú thích 5 nêu giới hạn không quá S$5 triệu theo hướng dẫn MAS; mục đích là giảm gánh nặng phải phân biệt cung ứng 0% với cung ứng miễn thuế.
Bảo hiểm phi nhân thọ và nguyên tắc xét thuế suất 0%
Cung cấp hợp đồng phi nhân thọ là cung ứng dịch vụ chịu thuế. Doanh nghiệp đã đăng ký GST phải thu và hạch toán thuế suất hiện hành trên phí, trừ khi cung ứng đáp ứng định nghĩa dịch vụ quốc tế tại Điều 21(3) để được áp dụng 0%, như chú thích 6 giải thích. Ví dụ gồm bảo hiểm xe, hỏa hoạn, tai nạn cá nhân, sức khỏe và y tế, bồi thường tai nạn lao động, trách nhiệm nghề nghiệp và bảo đảm trung thực.
Bảo hiểm trực tiếp có thể được áp dụng 0% khi thuộc một mô tả dịch vụ quốc tế trong Điều 21(3). Thông thường, bên mua bảo hiểm phải thuộc ngoài Singapore và ở ngoài Singapore khi dịch vụ được thực hiện. Tuy nhiên, với một số hợp đồng phi nhân thọ, nơi thuộc về của người được bảo hiểm cũng có liên quan. Chú thích 7 xác định người được bảo hiểm trong hợp đồng nhân thọ không được coi là bên trực tiếp hưởng lợi khi xét Điều 21(3)(j). Chú thích 8 lấy ví dụ bảo hiểm trách nhiệm giám đốc có bảo hiểm cả trách nhiệm cá nhân của giám đốc.
Một số hợp đồng vẫn có thể chịu 0% khi bên mua thuộc Singapore, như các trường hợp trực tiếp liên quan vận tải quốc tế, xuất khẩu hàng, hoặc đất và hàng ở ngoài Singapore. Cần phân biệt những căn cứ này với căn cứ bắt buộc khách hàng thuộc ngoài Singapore.
Điều 21(3)(c): bảo hiểm vận tải quốc tế
Bên mua có thể thuộc Singapore hoặc nước ngoài. Bảo hiểm trực tiếp liên quan vận tải hàng hóa, hành khách quốc tế có thể được áp dụng 0% cho ba hành trình: từ nơi ngoài Singapore đến nơi khác ngoài Singapore; từ Singapore ra ngoài; hoặc từ ngoài vào Singapore.
Các trường hợp đủ điều kiện gồm bảo hiểm hàng hóa đường biển hoặc hàng không; bảo hiểm thân tàu hoặc thân máy bay thương mại tham gia vận tải quốc tế hàng hóa hay hành khách; và bảo hiểm du lịch khi hợp đồng nhận diện được hành trình vận chuyển hành khách đến hoặc từ ngoài Singapore. Bảo hiểm thân du thuyền giải trí, sà lan, thuyền không tham gia vận tải quốc tế không đủ điều kiện và chịu GST. Theo chú thích 10, từ 01/07/2010, bảo hiểm thân tàu du lịch chỉ chạy hành trình không cập cảng ngoài vẫn có thể chịu 0% theo Điều 21(3)(c).
Bảo hiểm để làm việc hoặc học ở nước ngoài và bảo hiểm sức khỏe có phạm vi chữa bệnh ở nước ngoài không đáp ứng căn cứ vận tải này. Chúng không trực tiếp liên quan xuất khẩu hàng, đất hoặc hàng ngoài Singapore, hay hành trình quốc tế; phí thu từ bên mua trong nước chịu thuế suất thông thường. Nơi được bảo hiểm không tự quyết định quyền hưởng 0%; chú thích 12 dẫn quy tắc xác định nơi thuộc về của cá nhân.
Chú thích 9 mô tả Điều 21(3)(c) bao gồm bảo hiểm, sắp xếp bảo hiểm hoặc sắp xếp vận tải hành khách, hàng hóa thuộc các hành trình liên quan, nhưng loại trừ cho thuê phương tiện vận tải. Từ 01/01/2023, việc sắp xếp bảo hiểm vận chuyển hành khách và sắp xếp vận tải hành khách không còn được áp dụng 0% theo điểm (c). Chú thích 11 phân biệt rõ: trước ngày đó, sắp xếp bảo hiểm du lịch quốc tế cho hành khách có thể thuộc (c); từ ngày đó chỉ có thể hưởng 0% nếu đáp ứng Điều 21(3)(j).
Các căn cứ 0% khác không bắt buộc bên mua thuộc nước ngoài
- Điều 21(3)(e): dịch vụ bảo hiểm trực tiếp liên quan đất hoặc công trình cải tạo trên đất ở ngoài Singapore. Ví dụ: bảo hiểm cháy cho bất động sản tại Việt Nam hoặc bảo hiểm rủi ro tài sản cho bất động sản tại Malaysia.
- Điều 21(3)(f): dịch vụ bảo hiểm trực tiếp liên quan hàng nằm ngoài Singapore khi dịch vụ được thực hiện.
- Điều 21(3)(h): bảo hiểm, không phải tái bảo hiểm, cho rủi ro phát sinh từ việc ứng trước tiền hoặc cấp tín dụng trực tiếp liên quan việc xuất khẩu hàng hóa, không phải dịch vụ, ra ngoài Singapore; hoặc cung cấp hàng có việc chuyển hàng từ một nơi ngoài Singapore đến nơi khác ngoài Singapore. Ví dụ là bảo hiểm tín dụng xuất khẩu.
Điều 21(3)(g) và (j): bên mua phải thuộc ngoài Singapore
Theo điểm (g), dịch vụ bảo hiểm phải trực tiếp liên quan hàng để xuất khẩu khỏi Singapore và bảo hiểm rủi ro phải được cung cấp cho người không thuộc Singapore khi dịch vụ được thực hiện. Chú thích 13 dẫn hướng dẫn IRAS giải thích mối liên hệ trực tiếp.
Theo điểm (j), phải đồng thời đáp ứng hợp đồng ký với người thuộc ngoài Singapore; trực tiếp đem lại lợi ích cho người thuộc ngoài Singapore và không ở Singapore khi dịch vụ thực hiện, hoặc cho người đã đăng ký GST ở Singapore; và không trực tiếp liên quan đất hoặc hàng ở Singapore. Chú thích 14 dẫn hướng dẫn về mối liên hệ trực tiếp và trực tiếp hưởng lợi. Chú thích 15 nêu trước 01/01/2020, người trực tiếp hưởng lợi phải thuộc ngoài Singapore; từ ngày đó mới mở rộng sang người đăng ký GST ở Singapore, cùng việc triển khai cơ chế tự tính GST.
Ví dụ của điểm (j) là hợp đồng sức khỏe cung cấp cho cá nhân ở nước ngoài. Ngược lại, bảo hiểm do bên mua trong nước mua để bảo vệ khoản nắm giữ cổ phần công ty nước ngoài hoặc khoản cho người nước ngoài vay không đủ điều kiện 0% theo điểm này.
Xác định nơi thuộc về của khách hàng là cá nhân
Đối với Điều 21(3)(j), cá nhân thuộc Singapore nếu nơi cư trú thường xuyên ở Singapore trong thời gian dịch vụ bảo hiểm được cung cấp. Về hành chính, Cục trưởng GST coi địa chỉ cư trú là nơi cư trú thường xuyên; khách hàng khai địa chỉ nhà ở Singapore sẽ được xem là thuộc Singapore.
Nếu cá nhân ở nước ngoài để học hoặc làm việc và có nhiều địa chỉ cư trú, Cục trưởng sẵn sàng chấp nhận người đó thuộc nước ngoài khi đáp ứng đồng thời cả ba điều kiện dưới đây. Ví dụ là bảo hiểm sinh viên có thời hạn bảo hiểm hơn một năm trong khi sinh viên ở nước ngoài.
- Vắng mặt tại Singapore liên tục ít nhất một năm. Việc nghỉ lễ tại Singapore trong năm đó không làm mất điều kiện; tạm về nghỉ phép hoặc vì mục đích hợp lý khác được chấp nhận.
- Có nơi ở cố định tại quốc gia nước ngoài.
- Nếu làm việc ở nước ngoài, nhiệm vụ ở nước ngoài không được chỉ mang tính phụ trợ cho việc làm tại Singapore.
Thời điểm cung ứng đối với phí bảo hiểm
Phí trả một lần: hạch toán GST đầu ra tại thời điểm sớm hơn giữa phát hành hóa đơn và nhận tiền. Bất kỳ loại hóa đơn nào cũng có thể kích hoạt thời điểm cung ứng, bao gồm hóa đơn thuế và tài liệu đóng vai trò yêu cầu thanh toán cho cung ứng của nhà cung cấp đã đăng ký GST, chẳng hạn giấy báo nợ.
Thông thường, đơn bán hàng, hóa đơn chiếu lệ, sao kê tài khoản và thư hoặc bản kê yêu cầu bồi thường không được coi là hóa đơn cho mục đích này vì thường không phải yêu cầu thanh toán theo thực tiễn thương mại. Có thể xem hướng dẫn về thời điểm cung ứng để biết thêm.
Phí trả góp: thời điểm cung ứng là thời điểm sớm hơn giữa ngày từng khoản góp đến hạn và ngày thanh toán.
Phí do trung gian thu hộ và xin ước tính GST đầu ra
Phí bảo hiểm trung gian thu từ bên mua thay doanh nghiệp được coi là doanh nghiệp bảo hiểm đã nhận. Nếu chưa phát hành hóa đơn thuế trước đó, việc trung gian thu tiền kích hoạt thời điểm cung ứng. Trung gian nên thông báo việc thu phí cho doanh nghiệp bảo hiểm vì doanh nghiệp phải hạch toán GST trên phí các hợp đồng không được miễn hoặc 0%.
Nếu trung gian báo chậm khiến doanh nghiệp khó xác định chính xác thuế đầu ra trong kỳ, doanh nghiệp có thể gửi đơn bằng văn bản đến Cục trưởng GST xin ước tính theo Quy định 60 của Quy định chung về GST. Chỉ sau khi được chấp thuận, doanh nghiệp mới được ước tính toàn bộ hoặc một phần thuế đầu ra phải nộp theo công thức Cục trưởng cho phép. Khoản ước tính kỳ trước được điều chỉnh trong kỳ tiếp theo khi hóa đơn thuế cho phí đã nhận được phát hành.
Ví dụ đầy đủ: ước tính phí tháng 6 và điều chỉnh ở quý sau
Công ty A thu S$90,000 phí trong tháng 1–3/2024, chậm phát hành hóa đơn một tháng. GST ước tính cho tháng cuối quý sau, tháng 6/2024, bằng bình quân phí thực tế tháng của quý trước × một tháng chậm × thuế suất hiện hành: (90,000 ÷ 3) × 1 × 9% = S$2,700. Chú thích 16 giữ lịch sử thuế suất từ 7% lên 8% ngày 01/01/2023, rồi lên 9% ngày 01/01/2024.
Giả sử phí thực tế tháng 4–5/2024 là S$75,000, GST S$6,750. Công ty nên khai như bảng. Sang tháng 7–9/2024, biết phí thực tế tháng 6 là S$40,000 và GST S$3,600, công ty phải giảm Ô 1 S$30,000 và Ô 6 S$2,700 đã ước tính, rồi cộng đúng S$40,000 vào Ô 1 và S$3,600 vào Ô 6. GST ước tính tháng 9/2024 phải dùng bình quân phí thực tế tháng của tháng 4–6/2024.
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Ô tờ khai | Số thực tế và ước tính quý 4–6/2024 |
|---|---|
| Ô 1 — cung ứng thuế suất thông thường | S$75,000 + S$30,000 ước tính = S$105,000 |
| Ô 6 — GST đầu ra | S$6,750 + S$2,700 ước tính = S$9,450 |
Thuế đầu vào trên chi trả tiền, sửa xe và hoa hồng bán nhân thọ
Doanh nghiệp bảo hiểm đã đăng ký GST được khấu trừ khoản đầu vào được coi là phát sinh trên khoản bồi thường bằng tiền khi đáp ứng các điều kiện tại đoạn 3.2 của hướng dẫn IRAS về chi trả bằng tiền và thuế đầu vào chi phí xe. Đối với hàng hóa, dịch vụ mua để kinh doanh cung ứng chịu thuế, doanh nghiệp có thể khấu trừ đầu vào theo quy định; riêng chi phí xe ô tô phải đáp ứng mọi điều kiện đoạn 4.4 của hướng dẫn đó.
GST trên hoa hồng hoặc khuyến khích trả đại lý, trung gian đã đăng ký GST để bán hợp đồng nhân thọ cho người thuộc Singapore được coi là quy trực tiếp cho cung ứng miễn thuế và không nên yêu cầu khấu trừ. Quy tắc áp dụng với doanh nghiệp phải quy trực tiếp đầu vào cho cung ứng khi phân bổ thuế đầu vào. Chú thích 17 loại trừ doanh nghiệp đang áp dụng công thức thu hồi đặc biệt cho toàn bộ thuế đầu vào; hướng dẫn về miễn trừ một phần và thu hồi đầu vào có thông tin thêm.
Hoàn phí bảo hiểm và bù trừ khi tái tục
Doanh nghiệp có thể hoàn phí khi đáp ứng điều kiện và dùng khoản hoàn để bù phí phải trả. Thông thường không nên giảm giá trị dịch vụ bảo hiểm đã cung cấp và thuế đầu ra tương ứng khi hoàn tiền do xảy ra sự kiện được bảo hiểm hoặc sự kiện khác, ví dụ không phát sinh yêu cầu bồi thường hay chấm dứt kế hoạch sau số năm tối thiểu quy định.
Tuy nhiên, khoản hoàn có thể được coi là giảm giá phí nếu việc trả khoản hoàn gắn với tái tục hợp đồng và khoản hoàn được bù vào phí. GST trên phí kỳ sau có thể tính trên số phí ròng phải trả.
Hợp đồng liên kết đầu tư và ba điều kiện coi là một cung ứng nhân thọ
Hợp đồng liên kết đầu tư, viết tắt ILP, kết hợp bảo vệ và đầu tư. Phí nhận thường được đầu tư vào quỹ liên kết đầu tư do chuyên gia quản lý, đổi lấy đơn vị quỹ phân bổ cho bên mua. Phí quản lý quỹ, chấm dứt hoặc mua lại hợp đồng thường được công bố riêng và thanh toán bằng giảm số đơn vị quỹ.
IRAS sẵn sàng coi ILP là một cung ứng hợp đồng nhân thọ và miễn GST trên phí khi đồng thời đáp ứng ba cơ sở sau. Các phí và khoản thu liên quan cũng được coi là khoản đối giá bổ sung của cung ứng nhân thọ miễn thuế theo đoạn 1(l), Phần I, Phụ lục thứ tư.
Chú thích 18 giải thích yếu tố đầu tư tăng cường bảo vệ nhân thọ vì có tiềm năng lợi nhuận cao hơn làm tăng giá trị tiền mặt của hợp đồng, thay vì để doanh nghiệp bảo hiểm tự quyết định đầu tư như hợp đồng nhân thọ truyền thống.
- Mục đích chính của bên mua là mua bảo hiểm nhân thọ, không chỉ một sản phẩm đầu tư.
- Yếu tố đầu tư luôn được cung cấp thành một gói cùng hợp đồng nhân thọ.
- ILP thuộc định nghĩa hợp đồng nhân thọ của Luật Bảo hiểm.
Mức miễn thường — tình huống 1: nhà cung cấp lập hóa đơn cho bên mua
Một số bên mua không được bảo hiểm toàn bộ và phải tự chịu mức miễn thường khi có tổn thất. Trong sơ đồ thứ nhất, nhà cung cấp sửa xe phát hành hóa đơn thuế S$1,500 đã gồm GST cho bên mua; bên mua thanh toán S$1,500. Nếu chưa đăng ký GST, bên mua không được khấu trừ GST này.
Giả sử doanh nghiệp bảo hiểm chịu chi phí vượt mức miễn thường S$500, bên mua thu lại S$1,000 từ doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh nghiệp được coi là bồi thường bằng tiền theo hợp đồng. Chú thích 19 dẫn các điều kiện khấu trừ đầu vào được coi là phát sinh cho khoản chi tiền tại đoạn 3.2 của hướng dẫn chuyên đề.
Mức miễn thường — tình huống 2: nhà cung cấp lập hóa đơn cho doanh nghiệp bảo hiểm
Khi doanh nghiệp bảo hiểm ký hợp đồng mua dịch vụ bên thứ ba để thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm, nhà cung cấp lập hóa đơn cho doanh nghiệp bảo hiểm toàn bộ giá trị dịch vụ. Sơ đồ thể hiện hóa đơn S$1,500 đã gồm GST từ nhà cung cấp và khoản doanh nghiệp trả S$1,500; sau đó doanh nghiệp lập hóa đơn thuế S$500 đã gồm GST cho bên mua để thu hồi mức miễn thường.
Việc thu hồi mức miễn thường là cung ứng dịch vụ chịu thuế, nên doanh nghiệp phải thu GST. S$500 được coi là gồm hay chưa gồm GST phụ thuộc điều khoản hợp đồng bảo hiểm.
Chú thích 20 giả định trong cả tình huống 2 và 3 rằng mức bên mua chịu S$500 đã gồm GST. Nếu đã gồm thuế, GST = thuế suất ÷ (100% + thuế suất) × mức miễn thường thu lại. Nếu chưa gồm, GST = thuế suất hiện hành × mức miễn thường thu lại.
Mức miễn thường — tình huống 3: hai hợp đồng và hai hóa đơn
Nhà cung cấp có hai hợp đồng dịch vụ: một với doanh nghiệp bảo hiểm cho phần doanh nghiệp chịu, một với bên mua cho mức miễn thường bên mua chịu. Sơ đồ thể hiện hóa đơn S$1,000 đã gồm GST cho doanh nghiệp bảo hiểm và hóa đơn S$500 đã gồm GST cho bên mua.
Việc chia hóa đơn giữa người được bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm là thực tiễn phổ biến; nhà cung cấp được tiếp tục lập hai hóa đơn thuế để không làm gián đoạn thực tiễn này. Cả hai hóa đơn nên có GST vì nhà cung cấp cung ứng dịch vụ chịu thuế cho cả hai bên. Dù nhà cung cấp thu của bên mua mức miễn thường bao nhiêu, số thu đó nên được coi là đã gồm GST.
Thu hồi khoản bồi thường từ bên thứ ba và sơ đồ hai xưởng sửa chữa
Nếu bên thứ ba, tức bên mua A, gây thiệt hại, doanh nghiệp bảo hiểm Y của nạn nhân thường thu hồi toàn bộ hoặc một phần chi phí sửa từ A hoặc doanh nghiệp bảo hiểm X của A. Khi thu hồi, Y không cung ứng gì cho A hay X: khoản trả mang tính bồi thường, không phải đối giá dịch vụ.
Sơ đồ thể hiện nhà cung cấp 1 lập hóa đơn thuế cho X; X lập hóa đơn thuế và thu mức miễn thường S$500 từ bên mua A có lỗi; A có hợp đồng bảo hiểm với X. Nhà cung cấp 2 lập hóa đơn thuế cho nạn nhân B hoặc Y. X chi trả bằng tiền cho B hoặc Y, còn B hoặc Y thu lại khoản đã thỏa thuận từ X. Chú thích 21 giả định cả xe nạn nhân lẫn xe bên có lỗi đều hư hại, nên có hai xưởng sửa chữa.
Thu hồi chi phí khám y tế: nguyên tắc và đủ năm tình huống
Doanh nghiệp có thể yêu cầu người dự kiến mua bảo hiểm khám để xác định rủi ro và mức phí; thông thường doanh nghiệp chịu chi phí khám bắt buộc này. Có trường hợp doanh nghiệp thu lại từ đại lý hoặc bên mua. Nhìn chung, thu hồi chi phí là cung ứng dịch vụ chịu GST; nhưng nếu một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng gây tổn thất cho bên kia thì khoản bồi hoàn tổn thất không phải cung ứng và không chịu GST.
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Tình huống trong bảng gốc | Chịu thuế? | Lý do |
|---|---|---|
| (a) Doanh nghiệp đơn phương hủy hợp đồng dù đại lý không vi phạm thỏa thuận đại lý, rồi thu chi phí khám từ đại lý. | Có | Đại lý không vi phạm; quyết định hủy là đơn phương của doanh nghiệp bảo hiểm. |
| (b) Doanh nghiệp hủy do bên mua gian lận hoặc khai sai rồi thu chi phí khám từ đại lý. | Có | Việc thu từ đại lý không phát sinh do đại lý vi phạm điều khoản hợp đồng. |
| (c) Đại lý vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận đại lý, gây tổn thất cho doanh nghiệp; doanh nghiệp thu chi phí khám từ đại lý. | Không | Thu hồi là hậu quả vi phạm thỏa thuận đại lý. |
| (d) Người dự kiến mua không trả phí đầu tiên hoặc kỳ góp đầu trong thời gian ân hạn ghi ở thư chấp nhận; doanh nghiệp thu từ đại lý. | Có | Đại lý không vi phạm; bên mua đơn phương không trả phí. |
| (e) Bên mua ký rồi quyết định không tham gia trong thời gian cân nhắc; doanh nghiệp thu chi phí khám từ bên mua. | Có | Bên mua có quyền hủy trong thời gian cân nhắc nên không vi phạm hợp đồng. |
Tái bảo hiểm: miễn thuế trong nước và căn cứ 0% duy nhất
Hợp đồng tái bảo hiểm nhân thọ hoặc phi nhân thọ là cung ứng dịch vụ tài chính miễn thuế theo Phụ lục thứ tư của Luật GST; phí hợp đồng tái bảo hiểm đặt trong nước được miễn.
Phí được áp dụng 0% theo Điều 21(3)(j) nếu hợp đồng ký với người thuộc ngoài Singapore và trực tiếp đem lại lợi ích cho người thuộc ngoài Singapore, đang ở ngoài Singapore khi thực hiện dịch vụ, hoặc cho người đã đăng ký GST tại Singapore, với nhánh thứ hai có hiệu lực từ 01/01/2020. Do vậy phí nhận từ bên nhượng tái bảo hiểm thuộc ngoài Singapore có thể chịu 0%.
Bảo hiểm tái bảo hiểm không được coi là trực tiếp liên quan hàng hoặc đất. Căn cứ 0% duy nhất cho phạm vi bảo hiểm này là Điều 21(3)(j); không cần xét theo các điểm (e), (f), (g), (h).
Trung gian bảo hiểm: hoa hồng, người nhận dịch vụ và nơi thuộc về
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể thuê đại lý, môi giới, nhà tư vấn tài chính để tìm khách, bán và sắp xếp hợp đồng. Hoa hồng và phí, kể cả hoa hồng theo lợi nhuận, hoa hồng bổ sung và khoản trả liên quan sản phẩm, do trung gian đã đăng ký GST thu cho việc giới thiệu, sắp xếp bảo hiểm trực tiếp nhân thọ hoặc phi nhân thọ thường chịu thuế suất thông thường nếu người nhận dịch vụ thuộc Singapore, và 0% nếu thuộc ngoài Singapore. Người nhận có thể là doanh nghiệp bảo hiểm hoặc bên mua, tùy trung gian ký hợp đồng với ai.
Chú thích 22 nhắc hoa hồng, môi giới sắp xếp bán hợp đồng nhân thọ không được miễn GST. Theo chú thích 23, đại lý hoặc môi giới được nói đến là người kinh doanh, đăng ký GST độc lập; đại lý làm việc theo hợp đồng lao động với doanh nghiệp bảo hiểm là nhân viên và không phải đăng ký GST vì vai trò đó. Nhà tư vấn tài chính được cấp phép theo Luật Nhà tư vấn tài chính, như chú thích 24.
Một doanh nghiệp bảo hiểm được coi là thuộc Singapore nếu thuộc một trong ba trường hợp:
- Có cơ sở kinh doanh hoặc cơ sở cố định tại Singapore và không có ở nơi khác.
- Được thành lập theo pháp luật Singapore, chẳng hạn công ty đăng ký tại đây, và không có cơ sở kinh doanh hoặc cố định ở quốc gia nào khác.
- Có cơ sở cả tại Singapore lẫn nước ngoài nhưng dịch vụ được, hoặc sẽ được, cơ sở tại Singapore sử dụng trực tiếp nhất.
Doanh nghiệp nước ngoài có chi nhánh Singapore: giấy phép và hợp đồng trong nước
MAS yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài lập chi nhánh địa phương để hoạt động bảo hiểm tại Singapore. Chỉ chi nhánh đã đăng ký với MAS được hoạt động; trụ sở hoặc chi nhánh khác ở nước ngoài không được chào mời nghiệp vụ tại Singapore. Chi nhánh địa phương được coi là kinh doanh cho doanh nghiệp nước ngoài tại Singapore, nên thuộc Singapore đối với GST.
Chú thích 25 dẫn định nghĩa hoạt động bảo hiểm ở Singapore: nhận rủi ro hoặc đảm nhận trách nhiệm tại Singapore theo hợp đồng, cùng với nhận đề nghị mua hợp đồng tại Singapore, phát hành hợp đồng tại Singapore, hoặc thu, nhận phí tại Singapore.
Chỉ chi nhánh địa phương được cấp phép có thể tiếp thị, bán hợp đồng bảo hiểm rủi ro trong nước cho cư dân Singapore. Chú thích 26 xác định chỉ được bán sản phẩm MAS phê duyệt cho bên mua trong nước; phí phải ghi trong sổ chi nhánh, dù đơn vị nước ngoài hay chi nhánh địa phương thực hiện bảo hiểm. Định nghĩa cư dân theo Luật Bảo hiểm.
Hoa hồng giới thiệu các hợp đồng Singapore chịu thuế suất thông thường, trừ căn cứ quốc tế được nêu riêng. Theo chú thích 27, kết quả này vẫn áp dụng dù trung gian không liên hệ chi nhánh địa phương trong công việc hằng ngày.
Chú thích 28 nêu ngoại lệ cho trung gian đã xin MAS chấp thuận tìm nghiệp vụ Singapore cho doanh nghiệp nước ngoài chưa được cấp phép: dịch vụ giới thiệu có thể chịu 0% nếu đáp ứng mọi điều kiện Điều 21(3)(j), kể cả khi bên mua là người trong nước. Nhưng nếu trung gian cung cấp dịch vụ giới thiệu cho chính bên mua địa phương và bên mua trả phí thì phí đó chịu thuế suất thông thường.
Hợp đồng bảo hiểm rủi ro ngoài nước: xác định đúng đơn vị nhận dịch vụ
Cả chi nhánh địa phương được cấp phép và doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đều có thể bán hợp đồng về rủi ro ngoài Singapore. Trung gian phải xác định dịch vụ giới thiệu cung cấp cho chi nhánh địa phương hay doanh nghiệp nước ngoài. Đơn vị ghi nhận phí bảo hiểm trong sổ và đơn vị chịu trách nhiệm trả hoa hồng là các thông tin có thể giúp xác định.
Nếu cung cấp cho chi nhánh địa phương, trung gian đã đăng ký GST nên hạch toán GST trên hoa hồng và phí. Nếu dịch vụ giới thiệu cung cấp cho doanh nghiệp nước ngoài, hoa hồng đủ điều kiện 0% theo Điều 21(3)(j). Chú thích 29 yêu cầu hợp đồng dịch vụ giới thiệu không được ký với chi nhánh địa phương để áp dụng 0%.
Hoa hồng và phí dịch vụ trung gian không được coi là cung ứng trực tiếp liên quan đất hoặc hàng.
Môi giới vận tải quốc tế và thay đổi đối với bảo hiểm du lịch từ năm 2023
Khi môi giới sắp xếp bảo hiểm liên quan vận tải quốc tế hàng hóa hoặc hành khách, hướng dẫn nêu căn cứ Điều 21(3)(c), nhưng phải đọc cùng giới hạn thời gian cho hành khách. Thông thường hoa hồng sắp xếp bảo hiểm hàng hóa hoặc thân tàu đường biển; hàng hóa hoặc thân máy bay; và bảo hiểm du lịch trước 01/01/2023 nhận diện được hành trình hành khách đến hoặc từ ngoài Singapore có thể chịu 0%.
Từ 01/01/2023, việc sắp xếp bảo hiểm du lịch quốc tế cho hành khách chỉ có thể chịu 0% nếu đáp ứng Điều 21(3)(j). Nếu doanh nghiệp bảo hiểm không thể áp dụng 0% cho phí của các hợp đồng vận tải quốc tế liên quan, hoa hồng trung gian tương ứng cũng không đủ 0%.
Chú thích 30 giới hạn quy tắc song hành này đối với bảo hiểm vận tải hàng quốc tế và bảo hiểm vận tải hành khách trước 01/01/2023. Sau mốc đó, việc sắp xếp bảo hiểm hành khách có thể không đạt (j) ngay cả khi bản thân bảo hiểm vẫn được 0% theo (c). Không được suy từ thuế của phí bảo hiểm sang hoa hồng hành khách sau mốc thay đổi.
Hoa hồng hiện vật, cơ hội bốc thăm và hàng tặng làm giải thưởng
Khi nhận hàng hoặc dịch vụ làm hoa hồng, trung gian đã đăng ký GST nhận đối giá phi tiền tệ cho dịch vụ của mình và phải hạch toán GST theo giá trị thị trường của hàng, dịch vụ nhận được.
Nếu thay hoa hồng bằng cơ hội dự bốc thăm do đạt mục tiêu bán hàng, trung gian không phải hạch toán GST theo giá trị cơ hội đó. Nếu trúng giải, giải không được coi là đối giá cho dịch vụ của trung gian, nên không phải hạch toán GST trên hàng hoặc dịch vụ là giải. Chú thích 31 giải thích không có mối liên hệ trực tiếp giữa giải thưởng và dịch vụ trung gian.
Ngược lại, doanh nghiệp bảo hiểm đã đăng ký GST được coi là cung ứng hàng khi tặng hàng làm giải. Doanh nghiệp phải hạch toán GST theo giá trị thị trường, trừ khi giá vốn quà không quá S$200 hoặc không từng khấu trừ GST khi mua, nhập khẩu hàng đó.
Chú thích 32 giữ quy tắc trước 01/10/2012: không bị coi là cung ứng khi giá vốn hàng tặng không quá S$200 và hàng không thuộc một chuỗi hoặc loạt quà tặng cho cùng trung gian. Đây là điều kiện lịch sử kết hợp, khác hai ngoại lệ hiện được trình bày với quan hệ hoặc.
Hoa hồng tái bảo hiểm: nhận tái, nhượng tái và trung gian
- Nhận tái bảo hiểm: hoa hồng, gồm hoa hồng bổ sung và theo lợi nhuận, trả cho bên nhượng đã đăng ký GST được miễn nếu doanh nghiệp tái bảo hiểm thuộc Singapore; được áp dụng 0% nếu doanh nghiệp tái bảo hiểm thuộc ngoài Singapore.
- Nhượng tái bảo hiểm: hoa hồng bên nhận chuyển nhượng tái trả cho doanh nghiệp tái bảo hiểm được miễn nếu bên nhận chuyển nhượng tái thuộc Singapore, và chịu 0% nếu bên đó thuộc ngoài Singapore.
- Trung gian đã đăng ký GST sắp xếp hợp đồng tái bảo hiểm: hoa hồng được miễn nếu người nhận dịch vụ thuộc Singapore, và chịu 0% nếu người nhận thuộc ngoài Singapore.
Thời điểm tính GST trên hoa hồng và thời hạn lập hóa đơn
Trung gian nên hạch toán thuế đầu ra tại thời điểm sớm hơn giữa phát hành hóa đơn — do trung gian đăng ký GST lập hoặc do doanh nghiệp bảo hiểm tự lập thay theo thỏa thuận — và nhận thanh toán. Nếu nhận tiền trước khi lập hóa đơn thì phải lập hóa đơn thuế cho doanh nghiệp bảo hiểm đã đăng ký GST trong vòng 30 ngày từ ngày nhận, vì khách hàng cần hóa đơn để chứng minh khấu trừ đầu vào.
Chú thích 33 phân biệt trước 01/01/2011, chỉ hóa đơn thuế mới kích hoạt thời điểm cung ứng; từ ngày đó, mọi hóa đơn đóng vai trò yêu cầu thanh toán đều có thể kích hoạt, kể cả giấy báo nợ. Đơn bán hàng, hóa đơn chiếu lệ, sao kê tài khoản và thư hoặc bản kê yêu cầu bồi thường nhìn chung không phải hóa đơn theo thực tiễn thương mại.
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Cách chuyển phí bảo hiểm | Thời điểm và hóa đơn hoa hồng |
|---|---|
| Trung gian phải nộp toàn bộ phí đã thu, không khấu trừ hoa hồng. | Nếu chưa lập hóa đơn thuế trước đó, trung gian nên hạch toán đầu ra trong kỳ nhận hoa hồng từ doanh nghiệp bảo hiểm; sau đó nên lập hóa đơn trong vòng 30 ngày nhận hoa hồng. |
| Trung gian được trừ hoa hồng trước khi chuyển số phí ròng. | Phải hạch toán đầu ra trên hoa hồng ngay khi thu phí từ bên mua; nên lập hóa đơn cho doanh nghiệp bảo hiểm trong vòng 30 ngày nhận phí nếu chưa lập trước đó. |
Vì sao thu phí ròng vẫn làm phát sinh hoa hồng
Phí bên mua trả cho trung gian được coi là doanh nghiệp bảo hiểm đã nhận. Khi trung gian nhận phí, doanh nghiệp bảo hiểm được coi là đã chấp nhận nghiệp vụ và trung gian đã hoàn thành yếu tố giới thiệu của dịch vụ. Vì vậy trung gian có quyền hưởng hoa hồng khi nhận phí từ bên mua; việc chưa chuyển tiền hoặc chỉ chuyển phần ròng không dời thời điểm này.
Phí bảo hiểm và hoa hồng là hai cung ứng, không tính GST trên phần ròng
Phí bảo hiểm là đối giá cho dịch vụ doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp cho bên mua. Hoa hồng là đối giá cho dịch vụ trung gian sắp xếp bảo hiểm trực tiếp cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm. GST trên phí tính theo giá trị phí, GST trên hoa hồng tính theo giá trị hoa hồng; không nên tính theo chênh lệch ròng giữa hai khoản.
Nên có hóa đơn thuế riêng của doanh nghiệp bảo hiểm đăng ký GST gửi bên mua cho phí bảo hiểm và hóa đơn thuế riêng của trung gian đăng ký GST gửi doanh nghiệp bảo hiểm cho hoa hồng. Chú thích 34 dẫn yêu cầu thông tin hóa đơn trong hướng dẫn GST chung cho doanh nghiệp; chú thích 35 dẫn mẫu hóa đơn tại Phụ lục 1.
Giấy báo nợ của trung gian và biên nhận cho bên mua chưa đăng ký GST
Trung gian có thể phát hành giấy báo nợ để thu phí thay doanh nghiệp. Tuy nhiên, chính doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bảo hiểm nên doanh nghiệp nên lập hóa đơn thuế cho bên mua; không được nhầm giấy báo nợ của trung gian là hóa đơn thuế GST. IRAS khuyên trung gian đính kèm hóa đơn thuế của doanh nghiệp với giấy báo nợ và nên ghi câu sau, được mẫu Phụ lục 2 và chú thích 36 minh họa:
“This is not a Tax Invoice. The insurance company’s tax invoice is attached or will be sent to you shortly.” Nghĩa là: đây không phải hóa đơn thuế; hóa đơn thuế của doanh nghiệp bảo hiểm được đính kèm hoặc sẽ gửi sớm.
Doanh nghiệp có thể chọn cấp biên nhận thay hóa đơn thuế cho bên mua chưa đăng ký GST. Biên nhận phải được in số thứ tự, có tên và số đăng ký GST của doanh nghiệp; ngày cấp; tổng tiền phải trả gồm tổng GST; và dòng “price payable includes GST” — giá phải trả đã gồm GST. Doanh nghiệp phải lưu bản sao biên nhận đã phát hành.
Tự lập hóa đơn thay trung gian: điều kiện và loại tài khoản
Doanh nghiệp bảo hiểm thường xác định giá trị hoa hồng và thù lao khác của trung gian. Chú thích 37 cho biết doanh nghiệp có sẵn dữ liệu, chẳng hạn hợp đồng đại lý, để xác định giá trị cuối cùng. Nhằm thuận tiện hành chính, doanh nghiệp có thể áp dụng cơ chế tự lập hóa đơn thay trung gian cho dịch vụ trung gian cung cấp.
Cơ chế có thể bao gồm giao dịch với trung gian đã đăng ký GST, cả đại lý nhận tiền không có tài khoản của bên giao đại lý lẫn đại lý tín dụng và môi giới có tài khoản này. Chú thích 38 định nghĩa đại lý nhận tiền không có tài khoản ngân hàng riêng mở và duy trì với tư cách người nhận ủy thác cho doanh nghiệp bảo hiểm; họ nhận phí bên mua trả doanh nghiệp rồi chuyển toàn bộ phí thu được. Chú thích 39 định nghĩa đại lý tín dụng, môi giới có tài khoản bên giao đại lý: họ thu phí và nộp vào tài khoản sau khi khấu trừ hoa hồng được hưởng.
Chỉ được sử dụng sau khi doanh nghiệp tự rà soát và khai rằng mình đáp ứng tất cả điều kiện trong danh sách tự kiểm tra tính đủ điều kiện và tờ khai sử dụng tự lập hóa đơn thay nhà cung cấp, có tên chính thức “Checklist for Self-Review of Eligibility and Declaration on Use of Self-Billing”. Trung gian chưa có thỏa thuận này với doanh nghiệp bảo hiểm đăng ký GST mà mình đại diện nên bảo đảm lập hóa đơn theo quy tắc thời điểm nhận tiền đã nêu.
Bảng tổng hợp phí nhân thọ và tái bảo hiểm
Các bảng chỉ nêu nguyên tắc chung, không phải danh sách bao quát. Phải xét bản chất hợp đồng, không chỉ tên sản phẩm. Trong bảng gốc, ô miễn thuế và 0% của nhóm nhân thọ kéo qua phần tiếp trang; các dòng dưới giữ cùng phạm vi nhóm. Ký hiệu gốc: SR là thuế suất thông thường; EX là miễn; ZR là 0%; NA là không áp dụng.
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Loại hợp đồng | Khách hàng thuộc Singapore | Khách hàng thuộc ngoài Singapore |
|---|---|---|
| Nhân thọ cá nhân, như hỗn hợp hoặc trọn đời; gồm quyền lợi tai nạn hoặc y tế bổ sung kèm hợp đồng chính, theo chú thích 40. | Miễn | 0%, Điều 21(3)(j) |
| Nhân thọ nhóm, không gồm quyền lợi bổ sung; quyền lợi bổ sung chịu thuế suất thông thường khi khách thuộc Singapore, theo chú thích 41. | Miễn phần nhân thọ | 0%, Điều 21(3)(j) |
| Niên kim nhân thọ | Miễn | 0%, Điều 21(3)(j) |
| Nhân thọ có kỳ hạn | Miễn | 0%, Điều 21(3)(j) |
| Liên kết đầu tư | Miễn | 0%, Điều 21(3)(j) |
| Tái bảo hiểm | Miễn | 0%, Điều 21(3)(j) |
Bảng tổng hợp phí phi nhân thọ
Chú thích 42 yêu cầu tàu hoặc máy bay dùng cho vận tải quốc tế hàng hay hành khách; chú thích 43 yêu cầu hàng đi trên hành trình quốc tế. Chú thích 44 lưu ý tùy phạm vi, người được bảo hiểm có thể trực tiếp hưởng lợi và khác bên mua. Từ 01/01/2020, cung cấp cho bên mua nước ngoài nhưng trực tiếp đem lại lợi ích cho người được bảo hiểm đã đăng ký GST ở Singapore có thể được 0%.
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Loại hợp đồng | Khách thuộc Singapore | Khách thuộc ngoài Singapore |
|---|---|---|
| Bồi thường tai nạn lao động | Thuế suất thông thường | Không áp dụng |
| Xe đăng ký ở Singapore | Thuế suất thông thường | Thuế suất thông thường |
| Thân tàu hoặc máy bay đáp ứng vận tải quốc tế | 0%, Điều 21(3)(c) | 0%, Điều 21(3)(c) |
| Hàng hóa đường biển hoặc hàng không trên hành trình quốc tế | 0%, Điều 21(3)(c) | 0%, Điều 21(3)(c) |
| Du lịch | 0%, Điều 21(3)(c) | 0%, Điều 21(3)(c) |
| Cháy, trộm cắp: đất hoặc hàng trong Singapore | Thuế suất thông thường | Thuế suất thông thường |
| Cháy, trộm cắp: đất hoặc hàng ngoài Singapore | 0%, Điều 21(3)(e), (f) | 0%, Điều 21(3)(e), (f) |
| Trách nhiệm công cộng | Thuế suất thông thường | 0%, Điều 21(3)(j) |
| Y tế và tai nạn | Thuế suất thông thường | 0%, Điều 21(3)(j) |
| Trách nhiệm nghề nghiệp | Thuế suất thông thường | 0%, Điều 21(3)(j) |
| Quyền lợi bên nhận thế chấp | Thuế suất thông thường | 0%, Điều 21(3)(j) |
| Rủi ro chính trị | Thuế suất thông thường | 0%, Điều 21(3)(j) |
Bảng tổng hợp môi giới, hoa hồng và các khoản phí sắp xếp
Chú thích 45 xác định khách hàng là doanh nghiệp bảo hiểm hoặc bên mua tùy ai ký hợp đồng thuê trung gian. Với dịch vụ sắp xếp được 0% theo Điều 21(3)(j), khách hàng nước ngoài phải ở ngoài Singapore lúc thực hiện dịch vụ, theo chú thích 46. Bảng áp dụng cho hoa hồng, môi giới và phí khác của trung gian, tách biệt bảng phí bảo hiểm.
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Hợp đồng được sắp xếp | Khách thuộc Singapore | Khách thuộc ngoài Singapore |
|---|---|---|
| Thân tàu, thân máy bay; hàng hóa đường biển, hàng không | 0%, Điều 21(3)(c) | 0%, Điều 21(3)(c) |
| Du lịch trước 01/01/2023 | 0%, Điều 21(3)(c) | 0%, Điều 21(3)(c) |
| Du lịch từ 01/01/2023 | Thuế suất thông thường | 0%, Điều 21(3)(j) |
| Mọi sản phẩm nhân thọ hoặc phi nhân thọ khác ngoài các loại trên | Thuế suất thông thường | 0%, Điều 21(3)(j) |
| Hoa hồng tái bảo hiểm | Miễn | 0%, Điều 21(3)(j) |
Liên hệ IRAS về nội dung hướng dẫn
Để hỏi về hướng dẫn này, có thể truy cập www.iras.gov.sg, chọn “Contact Us” — liên hệ — để liên hệ bộ phận Thuế hàng hóa và dịch vụ.
Lịch sử xuất bản, sửa đổi và hai năm khác nhau trong nguyên bản
Trang xuất bản ghi bản hiện tại là thứ mười, 30/01/2026; bản đầu 31/03/2014, thứ hai 14/11/2014, thứ ba 10/06/2016, thứ tư 08/02/2018, thứ năm 23/09/2019, thứ sáu 15/08/2022, thứ bảy 01/01/2023, thứ tám 01/01/2024, thứ chín 27/08/2024. Bảng sửa đổi cuối nguyên bản lại ghi lần sửa tháng hai là 08/02/2017. Hai nơi có năm khác nhau; bảng dưới giữ ngày 2017 đúng theo bảng sửa đổi, không coi IRAS đã sửa trang xuất bản.
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Ngày trong bảng sửa đổi | Phạm vi sửa đổi đầy đủ theo nguyên bản |
|---|---|
| 14/11/2014 | Thêm 5.1.6–5.1.9 về GST trên đối giá phi tiền tệ của môi giới, đại lý và 6.6 về thông tin biên nhận. Sửa 3.3.2, 3.3.3 về sự liên quan của người được bảo hiểm khi áp dụng 0% cho phi nhân thọ. Thêm chú thích 4, 6, 7, 20, 21, 25, 26, 30. Biên tập 2.2, 3.1.4, chú thích 10, 15; định dạng lại bảng 8.1, 8.2. |
| 10/06/2016 | Thêm 5.1.2, 5.2, 5.2.1–5.2.4 và chú thích 20–25 về nơi thuộc về của doanh nghiệp bảo hiểm và dịch vụ giới thiệu cho doanh nghiệp nước ngoài có chi nhánh tại Singapore. |
| 08/02/2017, theo bảng sửa đổi | Sửa 3.4.1, bỏ quy tắc thời điểm cung ứng áp dụng cho phí trước 01/01/2011. Thêm 5.1.1, sửa 5.1.2, 5.2.1, chú thích 24 để làm rõ dịch vụ giới thiệu của trung gian. Sửa 5.4.1–5.4.3, bỏ quy tắc hoa hồng, phí trước 01/01/2011 và giải thích thêm thời điểm cung ứng của trung gian. Sửa 7.1–7.4, thêm chú thích 32 để mở rộng tự lập hóa đơn sang giao dịch giữa doanh nghiệp bảo hiểm và trung gian tín dụng đã đăng ký GST. Thêm chú thích 40 về loại khách hàng có thể ký hợp đồng thuê trung gian. Có sửa biên tập khác. Đây là các số đoạn, chú thích trong lịch sử nguyên gốc, không phải tự đánh lại số chú thích của bản hiện tại. |
| 23/09/2019 | Thêm 2.5 giải thích cơ chế tự tính GST. Sửa 3.3.4(B), thêm chú thích 13 và sửa chú thích 40 để phản ánh điều kiện trực tiếp hưởng lợi khi triển khai cơ chế từ 01/01/2020. Có sửa biên tập khác. |
| 15/08/2022 | Thêm 2.6 để mô tả thay đổi của cơ chế tự tính GST; có sửa biên tập khác. |
| 01/01/2023 | Sửa biên tập phản ánh thuế suất mới 8%; sửa biên tập 5.4.3; làm rõ từ ngày này dịch vụ sắp xếp bảo hiểm du lịch quốc tế cho hành khách chỉ đủ 0% nếu đáp ứng Điều 21(3)(j). |
| 01/01/2024 | Sửa biên tập phản ánh thuế suất mới 9%. |
| 27/08/2024 | Thêm 3.6.3 về thuế đầu vào trên hoa hồng trả đại lý, trung gian đã đăng ký GST. |
Phụ lục 1: đầy đủ trường và số tiền trên mẫu hóa đơn thuế
Mẫu được đề “TAX INVOICE” — hóa đơn thuế — và minh họa phí thuế suất 9%, không phải biểu phí dịch vụ của đơn vị tư vấn. Tên doanh nghiệp, địa chỉ và số đăng ký dưới đây là dữ liệu mẫu nguyên gốc.
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Trường trên mẫu | Nội dung hoặc chỗ điền |
|---|---|
| Ngày phát hành | 01/07/2024 |
| Doanh nghiệp phát hành | ABC INSURANCE COMPANY |
| Địa chỉ doanh nghiệp | 888 Jalan Ang Teng; Singapore 560009 |
| Số đăng ký GST | M2-1234567-1 |
| Số thứ tự hóa đơn | Chỗ trống để điền |
| Tên bên mua bảo hiểm | Chỗ trống để điền |
| Địa chỉ bên mua | Chỗ trống để điền |
| Chi tiết hợp đồng: loại hợp đồng | Chỗ trống để điền |
| Số hợp đồng | Chỗ trống để điền |
| Thời hạn hợp đồng | Chỗ trống để điền |
| Tên môi giới | Chỗ trống để điền |
| Địa chỉ môi giới | Chỗ trống để điền |
| Phí bảo hiểm trước GST, S$ | 1,000 |
| GST 9%, S$ | 90 |
| Tổng phí gồm GST, S$ | 1,090 |
| Tổng số phải thanh toán, S$ | 1,090 |
Phụ lục 2: đầy đủ trường trên mẫu giấy báo nợ
Mẫu giấy báo nợ của trung gian phân biệt rõ việc thu phí hộ với hóa đơn thuế của doanh nghiệp bảo hiểm. Phần ghi chú cuối mẫu có cùng câu tiếng Anh bắt buộc phân biệt chứng từ đã nêu: giấy này không phải hóa đơn thuế, hóa đơn của doanh nghiệp bảo hiểm được đính kèm hoặc sẽ gửi sớm.
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Trường trên mẫu | Nội dung hoặc chỗ điền |
|---|---|
| Tiêu đề | Giấy báo nợ — Debit Note |
| Loại hợp đồng | Chỗ trống để điền |
| Số hợp đồng | Chỗ trống để điền |
| Tên bên mua | Chỗ trống để điền |
| Địa chỉ bên mua | Ba dòng địa chỉ riêng để điền |
| Tên môi giới | Chỗ trống để điền |
| Địa chỉ môi giới | Chỗ trống để điền |
| Ngày phát hành | 01/07/2024 |
| Thời gian bảo hiểm | Chỗ trống để điền |
| Mô tả dịch vụ bảo hiểm cung cấp | Chỗ trống để điền |
| Tổng phí thu thay doanh nghiệp bảo hiểm ABC | S$1,090 |
| Ghi chú cuối mẫu | Không phải hóa đơn thuế; hóa đơn thuế của doanh nghiệp bảo hiểm đính kèm hoặc sẽ gửi sớm. |
Biểu mẫu và tài nguyên chính thức
Các liên kết chính thức dưới đây sử dụng tiếng Anh.
