Mục lục bài viết
Bản lưu trữ đầy đủ ngày 31/3/2003
Đây là bản trình bày nội dung thông tư IRAS ngày 31/3/2003 về thuế trên thu nhập gộp của người hành nghề chuyên môn không cư trú (NRP) phát sinh từ Singapore, quyền chọn chịu thuế trên thu nhập ròng và nghĩa vụ khấu trừ của bên trả tiền tại Singapore. Cả chín trang, 12 chú thích và toàn bộ sơ đồ Phụ lục A được giữ về mặt nội dung.
Thông tư làm rõ quyền chọn và nghĩa vụ bên trả; thủ tục NRP/doanh nghiệp hợp danh nước ngoài và bên trả phải thực hiện; các nhượng bộ hành chính giúp thực hiện quyền chọn; và các điều chỉnh do chế độ khấu trừ mới từ 1/4/2003, được giải thích ở đoạn 12–22 của nguồn.
Mọi mức 22%, thời hạn 30/45 ngày, ngày 15 của tháng kế tiếp và nhượng bộ vé máy bay/chỗ ở dưới đây được ghi là quy định trong bản năm 2003. Không sử dụng chúng làm quy tắc hiện hành. Phần cuối tách rõ mức 24%, hạn tháng thứ hai và việc rút nhượng bộ đang được IRAS công bố khi kiểm tra ngày 17/10/2026.
Bối cảnh trước và sau công bố ngân sách 3/5/2002
Trước công bố ngân sách ngày 3/5/2002, nguồn ghi NRP chịu thuế 24,5% trong năm tính thuế YA 2002 trên thu nhập sau chi phí được trừ; từ YA 2003 là 22%. Nhằm giảm thủ tục và chi phí tuân thủ cho NRP thường không cần chi nhiều để cung cấp dịch vụ tại Singapore, ngân sách 2002 chuyển sang thuế khấu trừ cuối cùng 15% trên thu nhập gộp từ dịch vụ thực hiện tại Singapore, có hiệu lực từ 3/5/2002.
Thu nhập gộp gồm cả chi phí do bên trả tiền tại Singapore chịu. Chú thích 2 minh họa phí dịch vụ S$100.000 cộng chi phí đi lại và lưu trú S$50.000 do bên trả chịu, tổng thu nhập gộp S$150.000. Chú thích 4 dẫn lại định nghĩa và ví dụ này.
Do tỷ lệ chi phí trên thu nhập có thể khác nhau, Bộ Tài chính cho phép chọn thuế 22% trên thu nhập ròng thay cho 15% trên thu nhập gộp, theo bối cảnh năm 2003.
Theo chú thích 1, trong thông tư này NRP là cá nhân không cư trú hành nghề chuyên môn hoặc nghề nghiệp tại Singapore theo hợp đồng cung cấp dịch vụ, dưới 183 ngày trong một năm dương lịch. Không đồng nhất hợp đồng dịch vụ độc lập này với quan hệ lao động.
Nhượng bộ chỗ ở và vé máy bay trong nguồn lịch sử
Chú thích 3 nói trước 3/5/2002 có nhượng bộ hành chính với chi phí chỗ ở và vé máy bay do bên tại Singapore ký hợp đồng dịch vụ chịu: chỗ ở cung cấp cho NRP không quá 60 ngày trong một năm dương lịch và vé máy bay đó không được tính vào thu nhập chịu thuế. Bản năm 2003 cho phép tiếp tục nhượng bộ này với người chọn thuế 22% trên thu nhập ròng, nhưng không còn áp dụng cho người chịu khấu trừ cuối cùng 15% trên thu nhập gộp.
Đây là nhượng bộ lịch sử để đọc các ví dụ bên dưới. Hướng dẫn hiện hành đã rút nhượng bộ này đối với thu nhập đến hạn và phải trả từ 1/11/2022; xem đối chiếu riêng cuối bài.
Cung cấp dịch vụ qua doanh nghiệp hợp danh nước ngoài
Cách xử lý năm 2003 cũng áp dụng cho NRP cung cấp dịch vụ qua doanh nghiệp hợp danh nước ngoài. Dịch vụ thực hiện ở Singapore qua doanh nghiệp đó chịu khấu trừ cuối cùng 15% thu nhập gộp, bất kể tình trạng cư trú của từng thành viên, trừ khi doanh nghiệp chọn thuế 22% trên thu nhập ròng.
Chú thích 5 dẫn Điều 43(3C) của Luật Thuế thu nhập Singapore, bản sửa đổi năm 2002: doanh nghiệp nước ngoài ở đây là một tổ chức không có tư cách pháp nhân, gồm ít nhất hai người hợp danh để kinh doanh kiếm lợi nhuận, có địa điểm kinh doanh chính bên ngoài Singapore.
Quyền chọn trong vòng 30 ngày theo phần đầu thông tư
Phần đầu thông tư mô tả quyền chọn theo Điều 43(3B): NRP/doanh nghiệp hợp danh nước ngoài có 30 ngày kể từ ngày thu nhập nghề nghiệp tại Singapore phát sinh, gọi là ngày thanh toán thu nhập, để yêu cầu chịu thuế 22% trên thu nhập ròng. Khi đã chọn thì không thể thu hồi. Không chọn trong 30 ngày thì khoản khấu trừ 15% thu nhập gộp là thuế cuối cùng. Phần sau của chính thông tư sửa thời hạn thành 45 ngày từ 1/4/2003; cần đọc hai phần theo đúng thời kỳ.
Dù có quyền chọn, bên trả tại Singapore vẫn phải khấu trừ 15% thu nhập gộp và gửi số thuế đó cùng IR37C đã điền đầy đủ tới Cơ quan quản lý thuế thu nhập (Comptroller of Income Tax, CIT), theo Điều 45F áp dụng quy định của Điều 45. Nếu quyền chọn được thực hiện, khoản 15% đã nộp được bù trừ với thuế 22% trên thu nhập ròng.
Chú thích 6 dẫn Điều 45(8): ngày thanh toán thu nhập là ngày bên ký hợp đồng có nghĩa vụ trả phí cho bên thực hiện dịch vụ, hoặc ngày thu nhập phát sinh cho bên thực hiện, nếu ngày đó sớm hơn ngày trả thực tế. Để phân biệt tình huống, nguồn dẫn đoạn 6–9 của thông tư IRAS ngày 31/3/2003 về ngày thanh toán cho mục đích khấu trừ theo S45 và các thay đổi từ 1/4/2003.
Theo chú thích 7, NRP/doanh nghiệp nước ngoài thực hiện quyền chọn qua IR37C sửa đổi, do bên trả tiền nộp cho CIT.
Chọn ngay trước hoặc cùng lúc khấu trừ và nộp thuế
Để tránh phải khấu trừ 15% trước rồi xử lý riêng lựa chọn 22%, thông tư cho phép nhượng bộ chọn ngay từ đầu: trước hoặc cùng lúc khấu trừ và chuyển thuế tới CIT. Khi chọn như vậy, bên trả không cần khấu trừ 15% thu nhập gộp mà khấu trừ 22% thu nhập ròng rồi nộp theo Điều 45.
NRP/doanh nghiệp hợp danh nước ngoài phải điền và ký phần IV của IR37C. Bên trả tiền nộp biểu mẫu cùng khoản thuế khấu trừ 22% thu nhập ròng trong thời hạn của Điều 45. Đây là quy trình biểu mẫu của bản năm 2003.
Điều chỉnh từ 1/4/2003: hạn nộp và quyền chọn 45 ngày
Từ 1/4/2003, thông tư yêu cầu bên trả thông báo và nộp thuế khấu trừ chậm nhất ngày 15 của tháng tiếp sau ngày thanh toán thu nhập. Tùy ngày thanh toán, bên trả có khoảng 15–45 ngày để chuyển thuế; vì thế nguồn nói Điều 43(3B) sẽ được sửa để cho phép NRP/doanh nghiệp nước ngoài tối đa 45 ngày từ ngày thanh toán để chọn thuế 22% thu nhập ròng. Chú thích 8 tiếp tục dẫn thông tư cùng ngày 31/3/2003 về cách xác định ngày thanh toán trong từng tình huống.
Người muốn chọn ngay từ đầu vẫn điền và ký phần IV của IR37C; bên trả nộp biểu mẫu chậm nhất ngày 15 tháng tiếp theo. Nếu chưa chọn ngay trước khi bên trả chuyển thuế, bên trả nên khấu trừ 15% thu nhập gộp. Sau đó NRP/doanh nghiệp nước ngoài có thể chọn thuế 22% ròng bằng IR37C sửa đổi qua bên trả, với điều kiện thực hiện trong 45 ngày từ ngày thanh toán.
Nếu thuế 22% trên thu nhập ròng thấp hơn khoản 15% gộp đã khấu trừ thì phần vượt được hoàn lại. CIT không chấp nhận lựa chọn thực hiện sau thời hạn 45 ngày. Các hạn này thuộc chế độ năm 2003, không thay thế hạn chọn và khai hiện hành.
Ví dụ S$100.000: đầy đủ các mốc 30/4–14/6/2003
Theo hợp đồng dịch vụ, ông A phải trả NRP ông B S$100.000 vào ngày 30/4/2003 cho dịch vụ thực hiện tại Singapore. Theo ví dụ nguồn, A phải khấu trừ và nộp chậm nhất 15/5/2003. Nếu B chưa chọn thuế 22% của S$100.000 trừ chi phí được phép, A khấu trừ 15% của S$100.000, tức S$15.000, và nộp trước hoặc vào 15/5/2003.
Nếu B sau đó thực hiện quyền chọn trong khoảng 16/5/2003–14/6/2003, nghĩa là sau 15/5 nhưng trong 45 ngày từ 30/4, bằng IR37C sửa đổi qua bên trả, CIT hoàn phần khấu trừ vượt thuế 22% thu nhập ròng. Lựa chọn đến CIT sau 14/6/2003 không được chấp nhận. Đoạn 18 dẫn sơ đồ Phụ lục A, được trình bày đầy đủ bên dưới.
Nhiều khoản thanh toán cho cùng một hợp đồng dịch vụ
Trong nhượng bộ của bản năm 2003, nhiều khoản hoặc một chuỗi thanh toán cho cùng NRP/doanh nghiệp hợp danh nước ngoài và cùng một hợp đồng dịch vụ có thể được gộp. Bên trả nộp thuế trên tổng thu nhập gộp chậm nhất ngày 15 của tháng tiếp theo ngày thanh toán cuối, nếu đáp ứng điều kiện khoảng cách từ lần đầu tới lần cuối không quá 60 ngày.
Chỉ các khoản đến hạn phải trả trong vòng 60 ngày từ ngày thanh toán đầu tiên cho cùng người/doanh nghiệp và cùng hợp đồng được gộp. Các khoản thuộc cùng hợp đồng nhưng phát sinh sau khoảng 60 ngày xử lý theo quy định thông thường ở đoạn 12–18, không được nhập vào nhóm trước.
Nếu muốn chọn thuế 22% trên thu nhập ròng cho nhóm gộp, NRP/doanh nghiệp nước ngoài phải chọn ngay từ đầu, tức chậm nhất ngày 15 của tháng tiếp sau lần thanh toán cuối nằm trong 60 ngày tính từ lần thanh toán đầu.
Ví dụ giảng viên: toàn bộ bảng so sánh và số tiền gốc
Một cơ sở giáo dục Singapore thuê NRP giảng bài từ 1/4/2003 đến 15/5/2003, trả phụ cấp tiền mặt S$400 ngày 1/4/2003, chi phí lưu trú S$500 ngày 17/5/2003 và vé máy bay S$1.000 ngày 1/7/2003. Bảng giữ nguyên phép tính và hạn trong nguồn; không áp dụng kết quả miễn chi phí chỗ ở/vé máy bay này cho giao dịch hiện nay.
Vuốt ngang trên điện thoại để xem đủ các cột.
| Khoản | Không chọn: 15% thu nhập gộp | Chọn ngay từ đầu: 22% thu nhập ròng |
|---|---|---|
| Phụ cấp tiền mặt và chỗ ở | 15% × (S$400 + S$500); nộp chậm nhất 15/6/2003 | 22% × S$400; nộp chậm nhất 15/6/2003 |
| Vé máy bay | 15% × S$1.000; nộp chậm nhất 15/8/2003 | Không phát sinh thuế theo nhượng bộ lịch sử được dẫn trong ví dụ |
Bốn chú thích giải thích ví dụ giảng viên
- Chú thích 9: S$400 ngày 1/4 và S$500 ngày 17/5 cách nhau dưới 60 ngày, nên hạn nộp là ngày 15 tháng sau lần thanh toán cuối, tức 15/6/2003.
- Chú thích 10: vé máy bay ngày 1/7 đến hạn sau hơn 60 ngày từ khoản đầu ngày 1/4, nên không gộp với các khoản trước dù cùng hợp đồng; hạn riêng là 15/8/2003.
- Chú thích 11: việc chỉ tính 22% trên S$400 và không tính thuế vé máy bay dựa vào nhượng bộ ở chú thích 3 cho chỗ ở không quá 60 ngày/năm và vé máy bay do bên trả chịu, khi NRP chọn thuế 22% trên thu nhập ròng.
- Chú thích 12: hạn 15/6 ở cột thu nhập ròng cũng do hai khoản 1/4 và 17/5 nằm trong khoảng dưới 60 ngày. Các chú thích này giải thích đúng bảng năm 2003.
Phụ lục A: toàn bộ ba nhánh xử lý năm 2003
- Câu hỏi đầu: NRP/doanh nghiệp nước ngoài có chọn thuế 22% thu nhập ròng thay cho 15% thu nhập gộp không? Nếu không, bên trả khấu trừ 15% gộp và nộp cùng IR37C cho CIT chậm nhất ngày 15 tháng tiếp sau ngày thanh toán; kết thúc nhánh này.
- Nếu có, câu hỏi tiếp: có chọn ngay từ đầu không? Nếu có, bên trả khấu trừ 22% ròng và nộp cùng IR37C cho CIT chậm nhất ngày 15 tháng tiếp sau ngày thanh toán.
- Nếu có chọn nhưng không ngay từ đầu, bên trả trước hết khấu trừ 15% gộp, nộp cùng IR37C chậm nhất ngày 15 tháng tiếp sau ngày thanh toán. NRP/doanh nghiệp nước ngoài thực hiện quyền chọn trong 45 ngày qua IR37C sửa đổi do bên trả nộp. CIT hoàn phần chênh lệch: thuế 15% thu nhập gộp trừ thuế 22% thu nhập ròng.
Liên hệ và bản quyền trong thông tư gốc
Phần liên hệ ở trang 8 của nguồn tiếp tục mang số đoạn 22, dù ví dụ trước đó cũng là đoạn 22. Nguồn ghi 1800-3568622 cho doanh nghiệp, 1800-3568300 cho cá nhân; hỏi về thanh toán và khai nộp theo các số 63512788, 63512789 hoặc 63513809. Đây là các số được công bố trong bản năm 2003, không phải xác nhận rằng vẫn là đầu mối hiện hành.
IRAS là nhà xuất bản và chủ bản quyền, xuất bản ngày 31/3/2003. Thông tin bản quyền nguồn yêu cầu cho phép bằng văn bản trước khi sao chép, truyền bằng bất kỳ phương thức nào, gồm sao chụp/ghi âm, hoặc lưu vào hệ thống truy xuất; gửi yêu cầu tới nhà xuất bản.
Đối chiếu hiện hành: 15% gộp hoặc 24% ròng
Trang IRAS hiện hành về nghĩa vụ thuế của người hành nghề không cư trú nêu thuế 15% trên thu nhập gộp hoặc quyền chọn mức 24% trên thu nhập ròng đối với thu nhập đến hạn và phải trả từ 1/1/2023. Mức 22% ròng được trang hiện hành ghi cho thu nhập đến hạn và phải trả từ 1/1/2016 đến 31/12/2022. Không mang cách ghi “22% từ YA 2003 trở đi” trong thông tư cũ sang mọi năm sau đó.
Đối chiếu hiện hành này áp dụng cho dịch vụ thực hiện tại Singapore. Trang IRAS nêu dịch vụ được thực hiện hoàn toàn ngoài Singapore không chịu khoản thuế này, dù bên trả ở Singapore. Phạm vi bài vẫn là diễn giải toàn bộ thông tư lịch sử, không thay thế toàn văn hướng dẫn hiện hành được liên kết.
Đối chiếu hiện hành: hạn tháng thứ hai và cách chọn thu nhập ròng
Hạn khai và nộp hiện hành là chậm nhất ngày 15 của tháng thứ hai tính từ ngày thanh toán, không phải tháng kế tiếp như trong thông tư năm 2003. Trang hiện hành vẫn cho phép gộp nhiều khoản trả cho cùng NRP hoặc người biểu diễn không cư trú, cùng hợp đồng dịch vụ và trong khoảng 60 ngày thành một lần khai, dùng ngày thanh toán cuối làm ngày thanh toán cho nhóm đó. Không lấy hạn tháng tiếp theo trong ví dụ lịch sử làm hạn cho nhóm thanh toán mới.
Đối chiếu hiện hành: quyền chọn và nhượng bộ đã rút
Trang IRAS hiện hành về xử lý thu nhập cho phép quyền chọn chịu thuế ròng được thực hiện khi khai điện tử, hoặc chậm nhất hạn khai nếu trước đó đã nộp 15% gộp; quyền chọn không thể thu hồi và áp dụng cho từng hợp đồng dịch vụ. Chú thích trang này xác định hạn là ngày 15 của tháng thứ hai đối với ngày thanh toán từ 28/11/2013. Vì vậy không sử dụng khoảng 30/45 ngày hoặc thủ tục IR37C năm 2003 làm hạn và thủ tục hiện nay.
Nhượng bộ cũ về chỗ ở không quá 60 ngày và vé máy bay do bên trả chịu đã được rút đối với thu nhập đến hạn và phải trả từ 1/11/2022. Theo phần giải thích hiện hành đó, chỗ ở và vé máy bay do bên trả chịu được tính thuế bất kể thời gian ở Singapore. Các mức miễn trong bảng giảng viên và chú thích 3/11 của thông tư cũ chỉ được giữ với nguồn lịch sử rõ ràng, không được trình bày thành miễn thuế hiện hành.
Những cập nhật này là đối chiếu có giới hạn về mức thuế, thời hạn và nhượng bộ liên quan trực tiếp đến tài liệu năm 2003; không nhằm diễn giải toàn bộ các khoản chi phí được trừ, các ví dụ và hỏi đáp của trang hiện hành.
Biểu mẫu và tài nguyên chính thức
Các liên kết chính thức dưới đây sử dụng tiếng Anh.
