Mục lục bài viết
Căn cứ, tên và hiệu lực
Theo Điều 43 Luật Đăng ký tên kinh doanh 2014, Đạo luật số 29 năm 2014, Bộ trưởng Tài chính ban hành Quy định Đăng ký tên kinh doanh (Áp dụng đối với nghề luật) 2015, có hiệu lực ngày 3/1/2016. Văn bản gồm tên và hiệu lực, không áp dụng miễn trừ và thu hồi văn bản cũ.
Các đối tượng không được áp dụng Điều 4(1)(c)
Theo quy định 2(1)(a), Điều 4(1)(c) không áp dụng cho cá nhân là chủ sở hữu duy nhất của công ty hợp danh luật hoặc tổ chức hành nghề luật nước ngoài cung cấp bất kỳ dịch vụ pháp lý nào tại Singapore.
Theo quy định 2(1)(b), Điều 4(1)(c) cũng không áp dụng cho công ty hợp danh gồm từ hai cá nhân trở lên là công ty hợp danh luật, tổ chức hành nghề luật nước ngoài cung cấp bất kỳ dịch vụ pháp lý nào tại Singapore, hoặc liên doanh luật (Joint Law Venture).
Định nghĩa và văn bản bị thu hồi
Theo quy định 2(2), “foreign law practice”, “Joint Law Venture” và “law firm” có cùng nghĩa như tại Điều 2(1) Luật Nghề luật, Chương 161.
Quy định 3 thu hồi Quy định Đăng ký kinh doanh (Áp dụng Đạo luật đối với việc hành nghề) 2009, Công báo S 185/2009.
Thông tin Công báo và phiên bản
Văn bản số S 828/2015 được ban hành ngày 21/12/2015, đăng lần đầu trên Công báo điện tử lúc 12 giờ trưa ngày 31/12/2015. Người ký: Lim Soo Hoon, Thư ký thường trực phụ trách Tài chính và Hiệu quả hoạt động, Bộ Tài chính Singapore. Mã hồ sơ: F14.2.1; AG/LEGIS/SL/32/2015/6 Vol. 1.
Tài liệu này ghi nhận văn bản và mốc hiệu lực lịch sử; không phải bản hợp nhất các quy định hiện hành. Cần mở nguồn chính thức để phân biệt phiên bản khi áp dụng.
