Phạm vi đào tạo và bối cảnh lịch sử
Tài liệu 74 trang gồm 12 chủ đề về việc mở rộng OVR từ ngày 1 tháng 1 năm 2023: đăng ký, cơ chế đơn giản, khách hàng, thuế trùng, các lựa chọn và chuyển tiếp. Từ năm 2020, bên cung cấp dịch vụ số ở nước ngoài phải đăng ký khi doanh thu toàn cầu vượt S$1 triệu và dịch vụ B2C tại Singapore vượt S$100,000; việc mở rộng bao gồm hàng nhập khẩu giá trị thấp và dịch vụ từ xa không phải dịch vụ số, trong khi dịch vụ số vẫn chịu thuế. Một số ví dụ dùng 7% và thời hạn trước triển khai năm 2022. Đây là thuế suất và thời hạn lịch sử, không phải mức và ngày hiện hành; giao dịch thực tế phải theo thuế suất luật định tại thời điểm cung cấp.
Dịch vụ từ xa và các loại trừ
Dịch vụ từ xa là dịch vụ mà khi thực hiện, không có mối liên hệ bắt buộc giữa nơi người nhận đang có mặt và nơi thực hiện dịch vụ. Ví dụ gồm ứng dụng, sách điện tử, hội viên nghề nghiệp, học thuật hoặc giải trí, tư vấn đầu tư, môi giới bảo hiểm, tư vấn pháp lý, học từ xa và thi chứng chỉ trực tuyến, tư vấn cá nhân, huấn luyện, mai mối và khám từ xa. Loại trừ dịch vụ tài chính được miễn theo luật như cho vay, cổ phần, trái phiếu, tài khoản và đổi ngoại tệ; dịch vụ sẽ đủ điều kiện thuế suất 0% nếu bên trong nước cung cấp, như bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đáp ứng điều kiện; khoản thu của chính phủ nước ngoài thuộc phạm vi quy định như phí tòa án; và dịch vụ cần có mặt tại chỗ như cắt tóc, vật lý trị liệu, vé vào sự kiện trực tiếp, ăn uống và tham quan bằng đường bộ. Không phải mọi dịch vụ ở nước ngoài đều chịu thuế.
Bốn điều kiện của hàng giá trị thấp
Tại thời điểm bán, hàng phải đồng thời: không chịu thuế hải quan, hoặc đã được miễn khoản thuế hải quan hay thuế tiêu thụ đặc biệt theo điều 11 của Customs Act; không được miễn GST; đang ở ngoài Singapore và được chuyển đến Singapore bằng đường hàng không hoặc bưu chính; và có giá bán không vượt S$400, kể cả giá trị tương đương khi dùng ngoại tệ. Hàng đi đường biển hay đường bộ thông thường không thuộc phạm vi này, trừ cơ chế phê duyệt riêng. Phải xét giá trị lúc bán, không chỉ nhìn giá trị kiện hàng nhập khẩu về sau.
Giá bán, cơ sở tính thuế và từng món hàng
Giá bán dùng xét ngưỡng loại trừ phí vận chuyển và bảo hiểm từ nước ngoài đến nơi giao tại Singapore, GST và thuế hải quan. Cơ sở tính GST lại bao gồm các khoản khách trả cho dịch vụ liên quan như vận chuyển và bảo hiểm; giá trị cung cấp cộng GST bằng khoản thanh toán. Nhiều món phải được tách giá trị từng món, kể cả đóng chung kiện vượt S$400. Ví dụ 1: váy niêm yết S$420 gồm S$25 phí vận chuyển và bảo hiểm được tách riêng rõ ràng; giá xét ngưỡng là S$395 nên là hàng giá trị thấp, nhưng cơ sở tính thuế là S$420. Ví dụ lịch sử dùng 7%, thuế S$29.40 và tổng thu S$449.40. Cần giữ hai cơ sở giá trị khác nhau, không dùng 7% như thuế suất hiện hành.
Các chủ thể chịu ảnh hưởng
Các bên chịu ảnh hưởng gồm bên bán, sàn giao dịch và đơn vị chuyển tiếp hàng, cả trong và ngoài Singapore. Bên thuộc nước ngoài không có cơ sở kinh doanh, cơ sở cố định hoặc nơi thường trú tại Singapore. Từ khi mở rộng chế độ, việc bên trong nước trực tiếp bán hàng giá trị thấp nằm trong kho ở nước ngoài cho khách chưa đăng ký GST thuộc phạm vi chịu thuế: bên đã đăng ký thu và khai GST, bên chưa đăng ký phải tính vào doanh thu để xét nghĩa vụ đăng ký. Bán trực tiếp là tự cung cấp cho khách, chẳng hạn qua website riêng, thay vì qua sàn hay đơn vị chuyển tiếp được coi là bên cung cấp.
Khi sàn giao dịch được coi là bên cung cấp
Sàn giao dịch có thể được coi là bên cung cấp nếu đáp ứng bất kỳ điều kiện nào: cho phép thu tiền, thông báo nghĩa vụ trả tiền hoặc tác động việc khách có trả hay khi nào trả; cho phép giao hàng, tự giao hoặc chấp thuận bắt đầu giao; đặt điều khoản, tác động giá, cách thanh toán hay giao hàng, chăm sóc khách hàng hoặc nắm dữ liệu khách; chứng từ cấp cho khách hoặc thông tin website xác định sàn là bên cung cấp; hoặc sàn và bên bán thỏa thuận sàn chịu nghĩa vụ GST. Phần lớn sàn đáp ứng, còn nơi chỉ đăng tin thường không thuộc. Việc này đổi chủ thể chịu GST trên hàng hoặc dịch vụ, không chỉ đánh thuế hoa hồng sàn.
Toàn bộ điều kiện đối với đơn vị chuyển tiếp hàng
Dịch vụ chuyển tiếp có thể cung cấp địa chỉ ở nước ngoài rồi chuyển hàng đến Singapore, hoặc thay khách đặt mua và thu xếp giao hàng. Để được coi là bên cung cấp phải đồng thời: không có sàn giao dịch nào đã được coi là bên cung cấp; bên bán gốc không giao hay thu xếp giao đến Singapore; và đơn vị chuyển tiếp giao hoặc hỗ trợ giao đến Singapore, đồng thời cung cấp hoặc hỗ trợ dùng địa chỉ ngoài Singapore, hoặc mua hay hỗ trợ mua hàng. Không phải mọi công ty vận tải tự động được coi là bên cung cấp.
Ngưỡng và cách phân bổ doanh thu của bên ở nước ngoài
Bên ở nước ngoài phải đồng thời có doanh thu toàn cầu vượt S$1 triệu và cung cấp hàng giá trị thấp cùng dịch vụ từ xa cho khách Singapore chưa đăng ký GST vượt S$100,000. Có thể xét doanh thu thực tế cả năm dương lịch hoặc dự kiến hợp lý trong 12 tháng tới. Sàn được coi là bên cung cấp tính hàng giá trị thấp của bên bán trong và ngoài nước, dịch vụ từ xa của bên bán nước ngoài và các giao dịch trực tiếp của chính mình; nghĩa vụ không tùy việc bên bán gốc đã đăng ký GST. Ví dụ 2: doanh thu toàn cầu S$3 triệu, giao dịch qua sàn của người bán S$60,000 cộng doanh số riêng S$50,000 thành S$110,000, nên phải đăng ký. Bên bán bỏ qua doanh số qua sàn đã được coi là bên cung cấp khi xét ngưỡng của mình: ví dụ 3 có doanh số riêng S$50,000 và S$60,000 qua sàn thì chưa vượt ngưỡng riêng S$100,000. Đơn vị chuyển tiếp được coi là bên cung cấp cộng cả giao dịch riêng và hàng của các bên mà mình hỗ trợ mua hoặc giao; ví dụ 4 có S$1.2 triệu hàng được hỗ trợ, đáp ứng cả hai ngưỡng.
Ngày đăng ký và ngoại lệ có chứng từ
Theo lịch triển khai lịch sử, nghĩa vụ xét lại từ ngày 31 tháng 12 năm 2022 phải được thông báo trong 30 ngày sau cuối năm: phát sinh ngày đó thì thông báo chậm nhất ngày 30 tháng 1 năm 2023 và đăng ký từ ngày 1 tháng 3 năm 2023. Với xét trước, dự báo vào hoặc trước ngày 23 tháng 9 năm 2022 phải thông báo chậm nhất ngày 1 tháng 10, hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 2023; dự báo từ ngày 24 tháng 9 đến ngày 31 tháng 12 phải thông báo chậm nhất ngày 31 tháng 1 năm 2023, hiệu lực ngày 1 tháng 2. Từ năm 2023, thông báo trong 30 ngày kể từ dự báo, hiệu lực ngày thứ 31. Ví dụ 5 giả định doanh thu toàn cầu thực tế và dự kiến đều vượt S$1 triệu: doanh thu Singapore thực tế S$200,000 và dự kiến S$300,000 cần thông báo chậm nhất ngày 30 tháng 1; nếu dự kiến S$50,000, do hoàn cảnh cụ thể và có tài liệu chứng minh doanh thu toàn cầu hoặc doanh thu Singapore năm sau sẽ không vượt ngưỡng tương ứng, có thể không phải đăng ký. Ví dụ 6 đều dự kiến S$300,000 nhưng dự báo ngày 20 và 24 tháng 9 dẫn đến các hạn lịch sử khác nhau nêu trên.
Ngưỡng doanh thu tổng hợp thông thường của bên trong nước
Bên trong nước xét tổng doanh thu chịu thuế vượt S$1 triệu theo năm dương lịch đã qua hoặc dự kiến 12 tháng tới; ngưỡng S$100,000 dành cho bên nước ngoài không áp dụng. Bên bán trong nước cộng doanh số trực tiếp hàng giá trị thấp ở nước ngoài và các giao dịch của mình chịu thuế suất tiêu chuẩn hoặc 0%. Sàn trong nước được coi là bên cung cấp còn cộng hàng giá trị thấp của người bán và dịch vụ từ xa của người bán nước ngoài. Đơn vị chuyển tiếp cộng hàng giá trị thấp gốc mà mình hỗ trợ mua hay giao. Cả hai cũng cộng doanh số hàng giá trị thấp trực tiếp và giao dịch tiêu chuẩn hoặc 0% của chính mình. Việc bên bán gốc đăng ký GST không thay đổi trách nhiệm này.
Đăng ký và khai theo cơ chế chỉ nộp thuế đơn giản
Bên OVR ở nước ngoài theo cơ chế chỉ nộp thuế đơn giản thường không phải có đại lý thuế tại Singapore hoặc đặt bảo đảm; trường hợp tự nguyện đăng ký có thể chịu điều kiện của Cục trưởng Thuế. Tờ khai đơn giản chỉ có các mục liên quan, nộp theo quý và khai, thanh toán trong một tháng sau cuối kỳ. Không được yêu cầu khấu trừ GST đầu vào. Số dư GST được hoàn được giữ thành tín dụng bù kỳ sau; có thể xin hoàn với phê duyệt của Cục trưởng nếu chịu phí chuyển tiền liên quan. Đây là cơ chế cho bên nước ngoài, không tự động thay thế cơ chế thông thường của bên trong nước.
Sửa sai, nợ xấu và chứng từ theo cơ chế đơn giản
Sai sót được sửa trong tờ khai kế tiếp; sai sót đáng kể có thể viết đề nghị điều chỉnh kèm lý do. Giảm thuế cho nợ xấu có thể áp dụng sau tự kiểm tra theo danh mục, với khoản GST được hoàn giữ thành tín dụng. Không có yêu cầu hóa đơn hay niêm yết giá bổ sung vượt thông lệ kinh doanh thông thường theo cơ chế này; tuy nhiên vẫn phải giữ hồ sơ kinh doanh và kế toán ít nhất năm năm, và cung cấp khi được yêu cầu các bảng bán hàng, hóa đơn, chứng từ thanh toán và thông tin khách như mã đăng ký GST để chứng minh số thuế thu. Tờ khai đơn giản không có nghĩa được miễn chứng từ.
Bên OVR đã đăng ký và bằng chứng về khách hàng dịch vụ từ xa
Bên OVR đã đăng ký không phải đăng ký lại nhưng phải thay đổi hệ thống từ năm 2023 để xác định nơi khách thuộc về, hàng nhập khẩu và trạng thái B2C. Đối với pháp nhân, xét cơ sở kinh doanh hoặc cơ sở cố định; đối với cá nhân, xét nơi thường trú. Do thông tin hạn chế, bên nước ngoài có thể giữ hai bằng chứng không mâu thuẫn: thông thường một bằng chứng thanh toán như thẻ hoặc tài khoản ngân hàng, cùng một bằng chứng nơi cư trú như địa chỉ hóa đơn hoặc nhà ở, hoặc bằng chứng truy cập như IP hay mã quốc gia SIM. Nếu bằng chứng thanh toán thiếu hoặc mâu thuẫn thì cần một bằng chứng cư trú và một bằng chứng truy cập không mâu thuẫn. Ví dụ 7: du khách cư trú Australia có IP Singapore nhưng địa chỉ hóa đơn và thẻ cùng chỉ Australia; nhà cung cấp phim kết luận khách thuộc Australia và không thu GST Singapore. Chỉ có mặt tại Singapore không phải yếu tố duy nhất.
Nơi nhận hàng và khách hàng đã đăng ký GST
Hàng được giao từ ngoài Singapore đến người nhận tại Singapore được coi là nhập khẩu; bằng chứng gồm hàng ở ngoài Singapore lúc bán, địa chỉ giao tại Singapore và thực tế giao đến đó. Mặc định coi khách chưa đăng ký GST. Khách đã đăng ký phải cung cấp mã đăng ký, nhà cung cấp phải cho phép nhập và có thể kiểm tra qua GST-registered Business Search. Khai sai tình trạng đăng ký hoặc nơi thuộc về có thể bị phạt. Nếu thu sai GST từ khách đã đăng ký, khách xin hoàn trực tiếp từ bên bán, không dùng thủ tục hoàn thông thường với IRAS.
Bốn nguy cơ đánh thuế hai lần
Bốn nguy cơ thu GST hai lần là nhiều món hàng giá trị thấp gộp thành kiện có CIF trên S$400, thay đổi tỷ giá, khác biệt giữa giá bán và CIF, hoặc thiếu thông tin GST khi nhập khẩu. Ví dụ: ba món S$150 thành kiện S$450; giá bán S$398 nhưng lúc nhập là S$402; hoặc giá bán S$390 cộng S$35 vận chuyển và bảo hiểm thành CIF S$425. Cần truyền cho chuỗi logistics và Hải quan kịp thời thông tin từng món đã nộp GST hay chưa và mã đăng ký GST của bên OVR. Nếu thiếu thông tin dẫn đến thu hai lần, khi khách đưa chứng cứ đã nộp GST nhập khẩu cho Hải quan, bên OVR phải hoàn khoản GST mình thu. Nếu đã khai và nộp khoản đó, có thể điều chỉnh trong tờ khai sau và giữ chứng cứ đã hoàn cho khách.
Lựa chọn 1: giá trị nhập khẩu
Mặc định ngưỡng S$400 dựa trên giá bán. Nếu hệ thống và quy trình xác định được phí vận chuyển, bảo hiểm ngay lúc bán, có thể chọn giá trị nhập khẩu dùng cho Hải quan. Theo điều 18, giá trị này thông thường gồm CIF, thuế hải quan, hoa hồng và chi phí phụ. Sau khi hoàn thành và gửi biểu mẫu LVG entry value threshold election có thể dùng giá trị nhập khẩu thay giá bán để xét ngưỡng. Đây là lựa chọn khác với xin đánh GST trên hàng đi đường biển hoặc đường bộ.
Lựa chọn 2: xét theo kiện hàng
Mặc định xét từng món hàng. Để chọn xét theo kiện, bên OVR phải giám sát toàn bộ chuỗi cung cấp và logistics; có quy trình xác định ngay lúc bán rằng hàng sẽ được gửi, giao trong một kiện; quy trình phải được ghi thành tài liệu và được bên bán gốc đồng ý nếu là sàn; đồng thời có thể điều chỉnh GST khi giá, số lượng hoặc trọng lượng thay đổi làm đổi giá trị kiện. Phải gửi biểu mẫu lựa chọn và bảo đảm mọi điều kiện rồi mới áp dụng; không được tự gộp các món mà bỏ qua yêu cầu.
Lựa chọn 3 cần phê duyệt: đường biển và đường bộ
Nếu thực sự khó xác định phương thức vận chuyển tại thời điểm bán, có thể xin áp dụng GST trên hàng giá trị thấp đi đường biển hoặc đường bộ. Khác hai lựa chọn chỉ cần gửi biểu mẫu và đáp ứng điều kiện, trường hợp này phải có phê duyệt của Cục trưởng Thuế qua Application to charge GST on LVG imported via sea/land. Vẫn phải truyền thông tin từng món đã nộp thuế và mã đăng ký để tránh thu trùng. Nên xin sớm để có thời gian xử lý.
Thời điểm cung cấp và chuyển tiếp đối với giao dịch riêng lẻ
Thời điểm cung cấp là ngày nhận tiền hoặc lập hóa đơn hay chứng từ tương đương dùng yêu cầu thanh toán, tùy ngày nào trước. Ví dụ 8: lập hóa đơn ngày 22, nhận tiền ngày 23, giao hàng hoặc thực hiện dịch vụ ngày 28 tháng 3 năm 2023; khai vào quý kết thúc ngày 31 tháng 3. Với chuyển tiếp hàng giá trị thấp lịch sử, hóa đơn được lập từ ngày 16 tháng 2 năm 2021 đến trước ngày 1 tháng 1 năm 2023, còn giao hàng và nhận tiền từ ngày 1 tháng 1 năm 2023, thì đánh thuế trên số thấp hơn giữa khoản tiền nhận sau mốc và giá trị hàng giao sau mốc. Ví dụ 9: ngày 30 tháng 12 năm 2022 xuất hóa đơn S$200, nhận trước S$100; ngày 2 tháng 1 năm 2023 nhận S$100 còn lại, ngày 4 giao toàn bộ hàng S$200, nên S$100 chịu thuế. Dịch vụ phi số riêng lẻ có cùng khoảng hóa đơn và xét số thấp hơn giữa tiền nhận và phần dịch vụ thực hiện sau mốc. Ví dụ 10: trước mốc xuất hóa đơn S$200 và đã làm một nửa dịch vụ S$100; ngày 2 tháng 1 nhận S$200, ngày 4 làm nửa còn lại S$100, nên S$100 chịu thuế.
Chuyển tiếp đối với dịch vụ liên tục có khác biệt
Dịch vụ phi số liên tục có hóa đơn hoặc tiền nhận trước ngày 1 tháng 1 năm 2023, có phần thực hiện từ ngày đó và theo thỏa thuận từ ngày 16 tháng 2 năm 2021 đến ngày 31 tháng 12 năm 2022, thì phần dịch vụ thực hiện sau mốc chịu thuế ngay cả khi đã trả trước. Ví dụ 11: công ty quản lý tài sản tại Thụy Sĩ ký ngày 1 tháng 11 năm 2022 để phục vụ một năm đến ngày 31 tháng 10 năm 2023; hóa đơn ngày 1 tháng 11 bao gồm quý từ tháng 11 đến hết tháng 1. Phần dịch vụ tháng 1 năm 2023, tức một tháng, phải tính GST dù tiền đã nhận trước. Không áp quy tắc lấy số thấp hơn của dịch vụ riêng lẻ cho dịch vụ liên tục; trả trước không làm miễn phần liên tục sau mốc.
Chuẩn bị và tài liệu tham khảo chính thức
Cần kiểm doanh thu quá khứ và dự kiến, chuẩn bị hồ sơ đăng ký và bố trí nguồn lực sửa hệ thống để xác định nơi khách thuộc về, mã GST, hàng giá trị thấp tại lúc bán, số thuế phải thu và thông tin logistics. Tài liệu lúc chuẩn bị triển khai nói dự kiến dùng FormSG cho bên nước ngoài và eF1 cho bên trong nước, trong đó FormSG sẽ có sau; đây là mô tả lịch sử, khi thực hiện phải xem hướng dẫn chính thức hiện hành. Nộp lựa chọn giá trị hay kiện hàng và xin phê duyệt đường biển, đường bộ nếu liên quan. Tài liệu tham khảo gồm trang GST on Imported Services, GST on Imports of Low-Value Goods và hai hướng dẫn về dịch vụ từ xa, hàng giá trị thấp theo OVR; địa chỉ hỏi là GST@iras.gov.sg. Tài liệu tự giới hạn là thông tin chung đúng tại lúc trình bày, không bao quát mọi vấn đề pháp luật; bìa không cho ngày trình bày nên không tự gán ngày.
Nguồn chính thức
Bản dịch tiếng Việt giữ đầy đủ nội dung bài viết tiếng Trung, gồm mọi điều kiện, bước, bảng và phụ lục trong phạm vi bài; các thông tin thực chất được đối chiếu PDF chính thức bằng tiếng Anh. Đây không phải bản dịch nguyên văn toàn bộ mọi tài liệu được liên kết. Xem bản gốc để kiểm cách diễn đạt, ngày và cập nhật về sau.
Xem PDF gốc chính thức ↗