Kết nối doanh nghiệp · Mở ra cơ hội · Hướng tới tương lai
WhatsApp
Zalo⌄
Mã QR Zalo của Hằng Tín

Quét mã để liên hệ qua Zalo. Nhấn để phóng to.

Di động: +65 8585 9090Email: info@acggroupsg.com
Thuế · PDF

Hiệp định thuế Singapore–Hàn Quốc: quy tắc mới, miễn giảm và phụ lục lịch sử

Trình bày đầy đủ phạm vi bài viết về hiệp định 53 trang, phân biệt bản mới năm 2019 và nghị định thư, hiệp định năm 1979 đã được thay thế và sửa đổi trao đổi thông tin năm 2010; giải thích cư trú, cơ sở thường trú, trần thuế suất và biện pháp giải quyết.

Ngày đối chiếu nguồn của bài gốc: 11 tháng 10 năm 2026

Trước hết xác định kỳ áp dụng hiệp định mới

Hiệp định mới giữa Singapore và Đại Hàn Dân Quốc được ký ngày 13 tháng 5 năm 2019, có hiệu lực ngày 31 tháng 12 năm 2019 và nhìn chung bắt đầu áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 2020. Điều 27 phân biệt cách triển khai cụ thể: tại Hàn Quốc, thuế khấu trừ tại nguồn áp dụng cho khoản phải trả từ ngày đó, còn các thuế khác áp dụng cho năm tính thuế bắt đầu từ ngày đó; tại Singapore, thuế khấu trừ lấy ngày sớm nhất trong ngày trả, được coi là trả hoặc phát sinh nghĩa vụ trả, áp dụng từ ngày đó, còn các thuế khác áp dụng cho năm đánh thuế bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2021. Yêu cầu trao đổi thông tin được áp dụng từ ngày hiệp định có hiệu lực.

Phụ lục A của PDF in lại hiệp định cũ năm 1979, Phụ lục B ghi nghị định thư trao đổi thông tin năm 2010 để tra cứu các kỳ lịch sử. Đối với loại thuế đã thuộc phạm vi áp dụng của bản mới, bản cũ đã được thay thế; không được tùy ý ghép điều khoản của hai bản để đạt kết quả có lợi hơn.

Đối tượng, loại thuế và định nghĩa

Hiệp định áp dụng cho cư dân của một hoặc cả hai bên, bao gồm thuế thu nhập và thuế đối với lợi nhuận từ việc định đoạt động sản, bất động sản. Các thuế được nêu rõ là thuế thu nhập, thuế doanh nghiệp, thuế đặc biệt phát triển nông thôn và thuế thu nhập địa phương của Hàn Quốc, cùng thuế thu nhập Singapore; phạm vi còn mở rộng đến thuế giống hoặc tương tự về cơ bản được áp dụng về sau.

Đối tượng gồm cá nhân, công ty và các tập hợp người khác; hoạt động kinh doanh gồm dịch vụ chuyên môn và hoạt động độc lập khác. Vận tải quốc tế không gồm vận tải chỉ giữa các địa điểm trong quốc gia ký kết kia. Thuật ngữ chưa được định nghĩa thường được giải thích theo luật thuế tại thời điểm áp dụng của nước áp dụng hiệp định; nghĩa theo luật thuế được ưu tiên so với nghĩa trong các luật nội địa khác.

Cư trú thuế và xác định trường hợp cư trú kép

Cư dân theo hiệp định được xác định dựa trên nghĩa vụ chịu thuế do nơi cư trú pháp lý, nơi sinh sống, trụ sở chính hoặc văn phòng chủ yếu, nơi quản lý hay tiêu chí tương tự; còn bao gồm nhà nước, đơn vị chính trị trực thuộc, chính quyền địa phương và cơ quan theo luật định. Khi cá nhân đồng thời là cư dân của hai nước, lần lượt xét nhà ở thường xuyên, trung tâm lợi ích thiết yếu, nơi thường trú thực tế, quốc tịch, rồi cơ quan có thẩm quyền giải quyết bằng thỏa thuận nếu cần.

Đối tượng cư trú kép không phải cá nhân được xác định là cư dân duy nhất theo hiệp định tại nơi quản lý thực tế. Quốc tịch tự nó không thay thế việc xác định cư trú thông thường; cũng không áp dụng trình tự dành cho cá nhân sang công ty.

Địa điểm kinh doanh cố định và ngưỡng công trình mười hai tháng

Cơ sở thường trú là địa điểm kinh doanh cố định mà qua đó doanh nghiệp tiến hành toàn bộ hoặc một phần hoạt động, gồm nơi quản lý, chi nhánh, văn phòng, nhà máy, xưởng và địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên. Công trường xây dựng, dự án thi công, lắp ráp, lắp đặt hoặc hoạt động giám sát liên quan phải kéo dài hơn mười hai tháng mới tạo thành cơ sở thường trú theo điều khoản công trình.

Điều 5 liệt kê ngoại lệ đối với cơ sở và hàng tồn kho chỉ dùng để lưu trữ, trưng bày hoặc giao hàng; hàng tồn kho để doanh nghiệp khác gia công; mua hàng hoặc thu thập thông tin; cùng hoạt động chuẩn bị hoặc phụ trợ khác. Khi kết hợp nhiều hoạt động, tổng thể vẫn phải có tính chuẩn bị hoặc phụ trợ. Việc hợp đồng gọi một địa điểm là văn phòng đại diện không tự chứng minh địa điểm đáp ứng ngoại lệ.

Đại lý ký hợp đồng và công ty con

Người đại diện doanh nghiệp và thường xuyên thực hiện quyền ký hợp đồng nhân danh doanh nghiệp có thể tạo thành cơ sở thường trú, trừ khi hoạt động chỉ giới hạn ở các hoạt động được miễn đã liệt kê. Môi giới hoặc đại lý hoa hồng độc lập hoạt động trong quá trình kinh doanh thông thường không tạo thành cơ sở thường trú chỉ vì quan hệ đại lý. Quan hệ kiểm soát giữa công ty, kể cả mẹ–con, tự nó cũng không đồng nghĩa với cơ sở thường trú. Cần kiểm tra quyền hạn, hành vi và địa điểm thực tế thay vì chỉ nhìn tỷ lệ sở hữu hay tên gọi đại lý.

Chỉ phân bổ lợi nhuận kinh doanh thuộc về cơ sở thường trú

Lợi nhuận kinh doanh thường chỉ chịu thuế tại nước doanh nghiệp cư trú, trừ khi doanh nghiệp kinh doanh ở nước kia qua cơ sở thường trú; nước kia chỉ được đánh thuế phần lợi nhuận thuộc về cơ sở đó, xác định theo nguyên tắc doanh nghiệp độc lập. Quy tắc phân bổ cho phép trừ chi phí phát sinh phục vụ cơ sở thường trú, kể cả chi phí điều hành và hành chính chung phát sinh ở nơi khác; chỉ mua hàng không tạo lợi nhuận được phân bổ. Phương pháp hằng năm phải nhất quán trừ khi có lý do chính đáng để thay đổi, đồng thời phải giữ cách phân loại thu nhập được các điều khoản khác quy định riêng.

Nghị định thư năm 2019 giải thích riêng hợp đồng khảo sát, cung cấp, lắp đặt và xây dựng thiết bị hoặc công trình công cộng: lợi nhuận cơ sở thường trú chỉ được xác định trên phần hợp đồng mà cơ sở thực sự thực hiện tại nước đặt cơ sở, không tính trên toàn bộ giá trị hợp đồng; phần do trụ sở chính thực hiện vẫn chỉ chịu thuế tại nước doanh nghiệp cư trú.

Bất động sản, vận tải quốc tế và doanh nghiệp liên kết

Nước có bất động sản được đánh thuế thu nhập từ sử dụng trực tiếp, cho thuê hoặc cách sử dụng khác, kể cả nông nghiệp và lâm nghiệp; quyền đối với tài nguyên thiên nhiên nằm trong phạm vi bất động sản, còn tàu và máy bay thì không.

Lợi nhuận khai thác tàu và máy bay trong vận tải quốc tế chỉ chịu thuế tại nước doanh nghiệp cư trú, bao gồm liên doanh và tổ chức vận tải chung. Lãi từ nguồn vốn gắn trực tiếp và không thể tách rời hoạt động vận tải áp dụng điều khoản vận tải thay vì điều khoản lãi thông thường; cho thuê tàu trần hoặc máy bay, sử dụng, bảo dưỡng và cho thuê container, gồm rơ-moóc và thiết bị liên quan, cũng được bao gồm nếu là hoạt động phụ thuộc vào việc khai thác vận tải quốc tế.

Điều kiện giao dịch không độc lập giữa doanh nghiệp liên kết có thể được điều chỉnh về mức lợi nhuận lẽ ra phát sinh giữa các doanh nghiệp độc lập; khi đáp ứng điều kiện hiệp định, nước kia thực hiện điều chỉnh tương ứng thích hợp về thuế, với việc tham vấn giữa các cơ quan có thẩm quyền nếu cần.

Trần thuế khấu trừ tại nguồn đối với cổ tức

Khi người hưởng lợi thực sự là cư dân nước kia, nếu người đó là công ty không phải hợp danh và trực tiếp nắm ít nhất 25% vốn của công ty trả cổ tức, trần thuế tại nước nguồn là 10% tổng cổ tức; các trường hợp khác là 15%. Hiệp định không miễn thuế doanh nghiệp trên lợi nhuận làm cơ sở trả cổ tức; nếu thuế suất nội địa thấp hơn, mức trần cũng không trở thành mức thuế tối thiểu bắt buộc.

Cổ tức gồm thu nhập từ cổ phần hoặc quyền tham gia chia lợi nhuận không phải khoản nợ, cùng quyền công ty khác mà luật thuế nước trả xử lý như cổ phần. Nếu khoản sở hữu gắn thực tế với cơ sở thường trú của người nhận tại nước nguồn, áp dụng điều khoản lợi nhuận kinh doanh. Việc công ty nước ngoài có lợi nhuận tại địa phương tự nó không cho phép nước đó đánh thuế lợi nhuận đã phân phối hoặc chưa phân phối của công ty; phải thuộc trường hợp người nhận tại địa phương hoặc mối liên hệ cơ sở thường trú được quy định.

Lãi, khoản chính phủ nhận và ngoại lệ bán chịu

Lãi mà cư dân nước kia là người hưởng lợi thực sự có trần thuế tại nước nguồn bằng 10% tổng số; lãi trả cho chính phủ nước kia được miễn thuế tại nước nguồn. Người nhận thuộc chính phủ được chỉ định gồm Bank of Korea, Korea Investment Corporation, Export-Import Bank of Korea, Korea Trade Insurance Corporation và cơ quan theo luật định của Hàn Quốc; phía Singapore gồm Monetary Authority of Singapore, GIC Private Limited và cơ quan theo luật định, đồng thời có thể gồm tổ chức thuộc sở hữu toàn bộ của chính phủ, thực hiện chức năng chính phủ và được hai bên thống nhất.

Lãi trả cho việc bán chịu thiết bị công nghiệp, thương mại, khoa học hoặc hàng hóa giữa các doanh nghiệp chỉ chịu thuế tại nước người nhận cư trú nếu người nhận là người hưởng lợi thực sự. Phạt chậm trả không phải lãi theo hiệp định. Khoản nợ gắn thực tế với cơ sở thường trú thì áp dụng lợi nhuận kinh doanh; nếu nợ phát sinh liên quan đến cơ sở và lãi do cơ sở chịu, nước có cơ sở có thể được xác định là nước nguồn của lãi. Phần vượt mức giao dịch độc lập do quan hệ đặc biệt không được hưởng mức trần.

Tiền bản quyền và trần năm phần trăm

Tiền bản quyền mà cư dân nước kia là người hưởng lợi thực sự có trần thuế tại nước nguồn bằng 5% tổng số. Định nghĩa mới gồm bản quyền tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, phim và băng dùng trong phát thanh, truyền hình; bằng sáng chế, nhãn hiệu, thiết kế, mẫu, bản vẽ, công thức hoặc quy trình bí mật; và thông tin kinh nghiệm công nghiệp, thương mại hoặc khoa học.

Bản mới không in lại phần định nghĩa cũ về sử dụng thiết bị. Vì vậy phải xem thực chất hợp đồng và khoản trả, không tự động xếp mọi tiền thuê thiết bị thành tiền bản quyền. Quyền gắn thực tế với cơ sở thường trú thì áp dụng lợi nhuận kinh doanh. Nguồn thường được xác định theo cư trú của bên trả, nhưng có ngoại lệ khi nghĩa vụ trả phát sinh liên quan đến cơ sở thường trú và do cơ sở chịu; phần vượt mức do quan hệ liên kết chịu thuế theo luật nội địa, có xét các điều khoản hiệp định khác.

Lợi nhuận từ chuyển nhượng tài sản và phần sở hữu đáng kể

Nước có bất động sản có thể đánh thuế lợi nhuận từ việc định đoạt; nước có cơ sở thường trú có thể đánh thuế lợi nhuận từ việc định đoạt tài sản kinh doanh của cơ sở và chính cơ sở đó. Lợi nhuận từ việc định đoạt tàu, máy bay khai thác quốc tế và động sản liên quan chỉ chịu thuế tại nước doanh nghiệp cư trú.

Đối với cổ phần không giao dịch trên sàn chứng khoán được công nhận, nếu hơn 50% giá trị trực tiếp hoặc gián tiếp đến từ bất động sản tại nước kia thì nước kia có thể đánh thuế. Nước công ty cư trú cũng được áp dụng luật nội địa để đánh thuế lợi nhuận từ việc định đoạt cổ phần thuộc phần sở hữu đáng kể; bản gốc mô tả phần sở hữu đáng kể khi người định đoạt, một mình hoặc cộng với người liên kết hay có quan hệ, trực tiếp hoặc gián tiếp nắm 25% tổng cổ phần đã phát hành. Lợi nhuận từ tài sản khác chỉ chịu thuế tại nước người định đoạt cư trú. Cần kiểm tra đúng cách diễn đạt điều khoản này, không thay bằng phép thử của hiệp định khác.

Thu nhập từ việc làm: tính số ngày theo năm dương lịch

Thù lao cho công việc làm thực tế tại nước kia có thể chịu thuế ở nước đó. Ngoại lệ lưu trú ngắn hạn đòi hỏi đồng thời: tổng thời gian không quá 183 ngày trong năm dương lịch liên quan, người sử dụng lao động không cư trú tại nước làm việc, và thù lao không do cơ sở thường trú tại địa phương của người sử dụng lao động chịu. Hiệp định này dùng năm dương lịch, không dùng khoảng mười hai tháng cuốn chiếu. Thù lao việc làm trên tàu hoặc máy bay khai thác quốc tế có thể chịu thuế tại nước doanh nghiệp vận tải cư trú.

Thù lao thành viên hội đồng quản trị có thể chịu thuế tại nước công ty cư trú; ngoại lệ số ngày làm việc không thay thế quy tắc riêng đối với phí giám đốc.

Nghệ sĩ, sinh viên và lương hưu

Thu nhập từ hoạt động tại địa phương của nghệ sĩ hoặc vận động viên có thể chịu thuế tại nước biểu diễn, kể cả khi khoản tiền thuộc về chủ thể khác. Có thể được miễn thuế tại nước biểu diễn nếu hoạt động được hỗ trợ toàn bộ hoặc chủ yếu bằng công quỹ của một trong hai nước ký kết và các cơ quan công được chỉ định, hoặc thực hiện theo thỏa thuận trao đổi văn hóa giữa chính phủ.

Sinh viên hoặc học viên kinh doanh đang là cư dân nước kia, hoặc là cư dân nước kia ngay trước chuyến đi, đến chỉ để học hay đào tạo, được miễn thuế tại nước đến đối với khoản sinh hoạt, giáo dục hoặc đào tạo có nguồn từ ngoài nước đó; quy định này không thiết lập ngoại lệ chung cho thù lao làm việc tại địa phương.

Điều 17 quy định lương hưu và thù lao tương tự phát sinh tại một nước, trả cho cư dân nước kia vì việc làm trước đây, về nguyên tắc chỉ do nước nguồn đánh thuế, có tính đến điều khoản lương hưu chính phủ. Không được viết nhầm thành chỉ do nước cư trú đánh thuế.

Thù lao công vụ và lương hưu chính phủ

Lương công vụ thường chỉ do nước trả đánh thuế; nếu dịch vụ thực hiện ở nước kia, cá nhân là cư dân nước kia và đồng thời là công dân nước đó hoặc không trở thành cư dân chỉ để thực hiện dịch vụ, thì chuyển sang chỉ nước kia đánh thuế. Lương hưu chính phủ thường chỉ do nước trả đánh thuế, nhưng nếu người nhận đồng thời là cư dân và công dân nước kia thì chỉ nước kia đánh thuế.

Dịch vụ liên quan đến hoạt động kinh doanh của chính phủ áp dụng điều khoản thông thường về việc làm, phí giám đốc, nghệ sĩ và lương hưu. Phạm vi cơ quan được chỉ định còn gồm Bank of Korea, các cơ quan xuất nhập khẩu và bảo hiểm thương mại, cơ quan xúc tiến thương mại–đầu tư của Hàn Quốc, cùng Monetary Authority of Singapore và Economic Development Board; có thể gồm tổ chức thực hiện chức năng chính phủ được thống nhất riêng. Đặc quyền thuế ngoại giao và lãnh sự không bị ảnh hưởng.

Thu nhập khác và tín dụng thuế nước ngoài

Thu nhập khác chưa được các điều khoản trên xử lý thường chịu thuế tại nước cư trú, nhưng có quy định riêng cho quyền gắn với cơ sở thường trú và quyền đánh thuế tại nước nguồn đối với thu nhập phát sinh ở nước kia. Hai nước cấp tín dụng thuế nước ngoài theo luật tín dụng trong nước, với trần bằng phần thuế nội địa tương ứng với thu nhập đó.

Tín dụng thuế trên cổ tức đối với thuế công ty cơ sở tại Hàn Quốc yêu cầu công ty nhận nắm ít nhất 25% cổ phần có quyền biểu quyết hoặc vốn cổ phần của công ty trả tại Singapore; Singapore yêu cầu công ty nhận trực tiếp hoặc gián tiếp nắm không dưới 25% vốn cổ phần của công ty trả tại Hàn Quốc. Cần phân biệt các điều kiện tín dụng này với phép thử nắm vốn trực tiếp dùng cho thuế khấu trừ cổ tức.

Điều 21 còn quy định tín dụng thuế được coi là đã nộp (tax sparing) có giới hạn đối với miễn, giảm theo ưu đãi phát triển kinh tế đã tồn tại lúc ký, hoặc sau đó chỉ được sửa đổi nhỏ mà không thay đổi nguyên tắc chung. Trần thuế được coi là đã nộp bằng 10% hoặc 15% cổ tức tương ứng và 5% tiền bản quyền. Không phải mọi khoản thuế chưa thực nộp hoặc ưu đãi mới về sau đều được cấp tín dụng.

Không phân biệt đối xử và quyền hưởng lợi thực sự

Công dân trong hoàn cảnh giống nhau, kể cả về cư trú, các cơ sở thường trú có thể so sánh và doanh nghiệp có vốn nước ngoài được hưởng bảo vệ chống phân biệt đối xử theo quy định; không bắt buộc mở rộng giảm trừ về hoàn cảnh cá nhân, gia đình của cư dân sang người không cư trú. Lãi, tiền bản quyền và khoản trả xuyên biên giới khác thường được trừ theo cùng điều kiện với khoản trả trong nước, trừ ngoại lệ giao dịch liên kết; hiệp định cho phép rõ việc từ chối trừ chi phí lãi trả người không cư trú khi thuế chưa được khấu trừ.

Nghị định thư năm 2019 giải thích ưu đãi phát triển kinh tế hoặc xã hội quốc gia không vì thế thành phân biệt đối xử; cơ quan theo luật định là cơ quan được thành lập bằng luật thành văn và chỉ làm chức năng phi thương mại mà chính phủ vốn sẽ thực hiện. Người hưởng lợi thực sự đối với cổ tức, lãi và tiền bản quyền được xử lý theo phiên bản Chú giải Mẫu hiệp định OECD ngày 15 tháng 7 năm 2014 được nghị định thư chỉ định.

Thủ tục thỏa thuận song phương, trao đổi thông tin và chống lạm dụng

Người cho rằng việc đánh thuế trái hiệp định có thể trình vụ việc lên cơ quan có thẩm quyền của nước mình cư trú trong ba năm kể từ thông báo đầu tiên về biện pháp liên quan, bất kể biện pháp khắc phục trong nước. Cơ quan cố gắng giải quyết vụ việc có căn cứ; thỏa thuận đạt được có thể thực hiện bất kể thời hạn trong luật nội địa. Hiệp định này không thiết lập trọng tài bắt buộc.

Trao đổi thông tin gồm dữ liệu có liên quan có thể dự kiến để thực thi hiệp định và các loại thuế nội địa, không bị giới hạn bởi danh sách đối tượng và loại thuế của hiệp định; thông tin được bảo mật cho mục đích quản lý thuế và tư pháp đã quy định. Bí mật thương mại, chính sách công và các hạn chế pháp lý được liệt kê vẫn áp dụng, nhưng không được từ chối chỉ vì trong nước không cần thông tin cho thuế, hoặc vì thông tin do ngân hàng, người đứng tên hay người được ủy thác nắm giữ.

Phép thử mục đích chính quy định: nếu nhận lợi ích hiệp định là một trong các mục đích chính của dàn xếp, về nguyên tắc lợi ích bị từ chối, trừ khi chứng minh việc cấp lợi ích phù hợp mục tiêu, mục đích của điều khoản liên quan. Chứng nhận cư trú tự nó không giải quyết được phép thử chống lạm dụng này.

Thủ tục chấm dứt hiệp định

Sau khi đủ năm năm kể từ khi có hiệu lực, một bên có thể thông báo chấm dứt bằng văn bản qua kênh ngoại giao ít nhất sáu tháng trước cuối năm dương lịch. Với Hàn Quốc, thuế khấu trừ và các thuế khác ngừng áp dụng cho khoản tiền hoặc năm tính thuế liên quan từ ngày 1 tháng 1 năm sau năm thông báo; với Singapore, thuế khấu trừ ngừng áp dụng sau cuối năm thông báo, vẫn xét thời điểm trả sớm nhất, còn thuế khác ngừng áp dụng cho năm đánh thuế bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 của năm dương lịch thứ hai sau năm thông báo. Các vấn đề khác ngừng sau cuối năm thông báo. Đây là giải thích cơ chế chấm dứt, không phải tuyên bố hiệp định đã thực sự chấm dứt.

Phụ lục lịch sử A: những khác biệt quan trọng không được trộn lẫn

Hiệp định cũ năm 1979 ký ngày 6 tháng 11 năm 1979, áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 1979. Ngưỡng cơ sở thường trú cho xây dựng và giám sát là hơn sáu tháng, đồng thời có điều khoản đại lý phụ thuộc thường xuyên thực hiện đơn hàng từ hàng tồn kho; bản mới dùng quy tắc công trình mười hai tháng. Trình tự cư trú cá nhân cũ không có bước quốc tịch của bản mới; đối tượng không phải cá nhân được xét theo nơi quản lý và kiểm soát, có thỏa thuận khi nghi vấn.

Trần tiền bản quyền cũ là 15%, gồm sử dụng thiết bị và việc định đoạt một số quyền sở hữu trí tuệ, khác mức 5% và định nghĩa mới. Lợi nhuận từ tài sản khác theo bản cũ có thể chịu thuế ở cả hai nước, trong khi bản mới quy định riêng cổ phần có giá trị bất động sản và phần sở hữu đáng kể, rồi dành quyền đánh thuế duy nhất cho nước cư trú đối với nhóm còn lại. Vận tải quốc tế cũ còn có điều khoản thuế giá trị gia tăng có đi có lại mà bản mới không in lại. Đây là đối chiếu lịch sử, không được coi là ưu đãi bổ sung hiện hành.

Ưu đãi cũ cho giáo viên, đào tạo và nghị định thư năm 1979

Hiệp định cũ miễn thuế cho giáo viên hoặc người nghiên cứu được mời đến trong chuyến thăm không quá hai năm. Điều khoản sinh viên và đào tạo cũ có trần thù lao dịch vụ tại địa phương mỗi năm dương lịch là 3.600 đô la Singapore hoặc 720.000 won Hàn Quốc, thời gian học thông thường tối đa sáu năm, chuyến đi nhận học bổng hoặc trợ cấp tối đa ba năm; cùng trần thù lao 15.000 đô la Singapore hoặc 3.000.000 won Hàn Quốc cho chuyến đi tích lũy kinh nghiệm trong mười hai tháng. Điều khoản sinh viên ngắn hơn của bản mới không in lại các ưu đãi này.

Nghị định thư năm 1979 xử lý thuế quốc phòng Hàn Quốc và thuế cư dân tính theo thu nhập; các loại trừ khỏi định nghĩa lợi nhuận kinh doanh cũ; cơ sở di động ngoài khơi không thuộc vận tải quốc tế; khi Singapore đánh thuế theo khoản chuyển về thì miễn, giảm tại Hàn Quốc giới hạn ở khoản chuyển hoặc nhận tại Singapore; và ngoại lệ giới hạn cho chứng khoán do Chính phủ Singapore nắm chỉ vì mục đích công, không tạo sự tham gia đáng kể. Không được đưa các điều khoản nghị định thư cũ này vào hiệp định năm 2019.

Phụ lục B ghi nhận cải cách trao đổi thông tin năm 2010

Nghị định thư ngày 24 tháng 5 năm 2010 thay Điều 25 cũ bằng trao đổi thông tin có liên quan có thể dự kiến, bao gồm các loại thuế, quy định bảo mật và bảo vệ; yêu cầu thu thập thông tin dù trong nước không cần và không được từ chối chỉ vì đó là thông tin ngân hàng hoặc sở hữu. Hiệu lực bắt đầu ba mươi ngày sau thông báo hoàn tất thủ tục muộn hơn của hai bên, tiếp tục áp dụng trong kỳ hiệp định cũ còn áp dụng. PDF không nêu ngày thông báo muộn hơn, nên không được gọi ngày ký là ngày có hiệu lực.

Khi thực sự xin áp dụng, nên lần lượt kiểm tra kỳ áp dụng, loại thu nhập, cư trú, người hưởng lợi thực sự, điều kiện vốn hoặc quyền biểu quyết, mối liên hệ cơ sở thường trú, quy tắc nguồn và sự kiện về mục đích chính. Giữ hồ sơ khấu trừ trong nước và tín dụng thuế, đồng thời dùng PDF gốc để đối chiếu điều khoản và phụ lục lịch sử.

Nguồn chính thức

Bản dịch tiếng Việt giữ đầy đủ nội dung bài viết tiếng Trung, gồm điều kiện, các bước và phụ lục trong phạm vi bài viết; thông tin thực chất đã được đối chiếu với PDF chính thức. Liên kết bản gốc dùng để kiểm tra cách diễn đạt chính thức; cần phân biệt ngày tài liệu và sửa đổi về sau.

Xem PDF gốc chính thức ↗
Liên hệ tư vấn
Liên hệ tư vấn