Khoản giảm năm 2020 và phiên bản tài liệu gốc
Tài liệu thực tế là ấn bản thứ sáu, công bố ngày 30 tháng 1 năm 2026, dù tên tệp cũ và lớp văn bản trích xuất vẫn còn chữ ấn bản thứ năm. Nội dung là khoản giảm cho ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, sau khi Resilience Budget ngày 26 tháng 3 năm 2020 mở rộng chính sách ngân sách ngày 18 tháng 2; đây không phải khoản giảm mới năm 2026. Tài liệu còn giải thích yêu cầu chuyển lợi ích cho người thuê theo Phần 6 của COVID-19 (Temporary Measures) Act và các quy định chuyển lợi ích năm 2020.
Các nhóm 100%, 60% và 30%
Phạm vi 100% gồm phòng và không gian sự kiện của khách sạn đăng ký, căn hộ dịch vụ, các địa điểm hội nghị/triển lãm được chỉ định Suntec, EXPO và Changi Exhibition Centre, sân bay Changi, bến tàu du lịch và phà được chỉ định, điểm tham quan, cửa hàng và nơi ăn uống. Phụ lục A còn liệt kê dịch vụ bán lẻ, bán lẻ trong kho, giải trí và rạp chiếu phim, câu lạc bộ thể thao và xã hội, mẫu giáo, trường tư và đào tạo, y tế/chăm sóc, chỗ lưu trú không đăng ký và ký túc xá sinh viên, ký túc xá công nhân xây chuyên dụng đủ điều kiện, cùng chỗ đỗ xe và không gian vận hành liên quan. Marina Bay Sands và Resorts World Sentosa thuộc mức 60%, không phải 100%. Không gian không phải nhà ở khác đủ điều kiện thường thuộc mức 30%.
Mục đích sử dụng bị loại và dự án hỗn hợp
Đất trống hoặc đất đang phát triển lại, nhà ở, tiện ích dành riêng cho cư dân, bãi xe nhà ở và không gian liên quan không được giảm. Các ví dụ 30% trong Phụ lục B gồm văn phòng, khu công nghiệp/khoa học/kinh doanh, nhà máy, kho lạnh, cơ sở sửa chữa, trung tâm dữ liệu/truyền thông, cơ sở tổng đài điện thoại, xưởng, bến xe, phòng thí nghiệm, kho tự quản, bến cảng, xưởng đóng tàu, cảng, công trình và mạng tiện ích, cơ sở bê tông và hàng không, trạm xăng, kho, trang trại và ký túc xá không thuộc nhóm 100%. Riêng việc để trống hoặc chủ sở hữu tự sử dụng không khiến cơ sở không phải nhà ở đã được liệt kê mất điều kiện. Trong dự án hỗn hợp, cửa hàng, nơi ăn uống và khu vực khách sạn liên quan có thể được 100%, văn phòng 30%, còn bãi xe được phân bổ theo tỷ lệ diện tích sàn đủ điều kiện.
Thông báo tự động, hoàn thuế và GIRO
Chủ sở hữu không cần nộp đơn; thông báo được gửi qua bưu điện và xem được tại myTax Portal. Ngày hỏi về thông báo chưa nhận là mốc lịch sử 31 tháng 5 năm 2020. Khoản hoàn cuối tháng 4 trước hết bù thuế còn nợ, rồi chuyển qua GIRO hoặc séc; khoản dưới S$15 được giữ để bù thuế tương lai. Với mức giảm 100%, ngừng trích nợ tháng 4 đến tháng 12 nhưng khoản nợ thuế có thể khiến trích nợ trở lại từ tháng 6. Mức 30% tạm ngừng tháng 5 đến tháng 8, mức 60% từ tháng 5 đến tháng 11. Ví dụ nhà máy trong Phụ lục D có thuế sau giảm S$2,520, đã trả S$1,200, còn bốn kỳ tháng 9 đến tháng 12, mỗi kỳ S$330.
Thay đổi mục đích sử dụng, quyền sở hữu và giá trị hằng năm
Thay đổi mục đích sử dụng phải báo IRAS và tính lại theo tỷ lệ thời gian. Khi chuyển nhượng, IRAS không chia khoản giảm giữa bên mua và bên bán; các bên phải xử lý bằng thỏa thuận chuyển nhượng riêng, và bên mua cần kiểm tra nghĩa vụ chuyển lợi ích. Điều chỉnh giá trị hằng năm năm 2020 cũng thay đổi khoản giảm. Trong Phụ lục E, cửa hàng đổi thành văn phòng có thuế S$2,100, tiết kiệm S$5,400; văn phòng đổi thành nhà ở có thuế S$3,110, tiết kiệm S$690. Trong Phụ lục F, giá trị hằng năm nhà máy giảm từ S$36,000 xuống S$33,000 ngày 1 tháng 7 thì thuế là S$2,415, được hoàn S$105; tăng lên S$39,000 thì thuế S$2,625, phải trả thêm S$105.
Ai là người thuê được chỉ định
Người thuê theo hợp đồng được chỉ định phải có hợp đồng thuê với chủ sở hữu, bao phủ bất kỳ thời điểm nào từ ngày 3 tháng 4 đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, và không dùng làm chỗ lưu trú. Người được cấp quyền sử dụng được chỉ định phải có thời hạn cấp quyền ban đầu ít nhất 12 tháng, không tính gia hạn, trùng với khoảng thời gian đó và không dùng làm chỗ lưu trú. Khách ăn uống, người mua sắm, khách đỗ xe, nhân viên và bên cung cấp dịch vụ bị loại. Thời hạn ban đầu 12 tháng vẫn có thể đủ điều kiện dù sau đó chỉ gia hạn ba tháng; ban đầu sáu tháng rồi gia hạn sáu tháng thì không đủ. Việc tính lợi ích có thể bao gồm thời gian chiếm dụng liên quan từ tháng 1 đến tháng 12, không chỉ khoảng thời gian xác định điều kiện. Thời gian sửa soạn trước khi thỏa thuận bắt đầu hoặc chiếm dụng thêm sau khi hết hạn không được tính.
Phương án 1A cho toàn bộ bất động sản
Cộng từng tháng trong thời gian sử dụng đủ điều kiện của người thuê. Công thức ban đầu là khoản giảm cả năm ÷ 12 × số ngày sử dụng trong tháng ÷ số ngày của tháng. Khi có thay đổi giữa tháng, chia khoản giảm cũ và mới thành từng giai đoạn, lấy khoản giảm mỗi giai đoạn chia cho tổng số tháng trọn và phần tháng của giai đoạn, rồi nhân tỷ lệ ngày sử dụng tương ứng; các tháng sau dùng số tiền mới cho đến lần thay đổi tiếp theo. Trong ví dụ S$9,000 cả năm ở Phụ lục G, thời gian ngày 1 tháng 1 đến ngày 15 tháng 5 được S$3,362.90; sử dụng cả năm được S$9,000.
Phương án 2A cho toàn bộ bất động sản
Có thể thay bằng phương án chuyển toàn bộ khoản giảm cho người thuê được chỉ định vào ngày 3 tháng 4 năm 2020; nếu không có thì chuyển cho người thuê đủ điều kiện đầu tiên từ ngày 4 tháng 4 đến ngày 31 tháng 7. Nếu cả hai đều không có, chỉ được dùng 1A. Trong Phụ lục G, khoản giảm ban đầu S$1,080 đổi thành S$1,009.35 trong tháng 8: theo 1A, B nhận S$778.65, gồm phần của người thuê đã rời đi, còn C nhận S$150; theo 2A, toàn bộ S$1,080 được chuyển cho B chậm nhất ngày 31 tháng 7 và sau đó không cần chuyển cho C. Riêng việc giảm khoản giảm trong ví dụ về sau không tạo nghĩa vụ trả thêm.
Phương án 1B cho một phần bất động sản và tiền thuê thuần
Các phần được cho thuê riêng phải dùng cùng một phương án. Theo 1B, lợi ích mỗi tháng bằng tiền thuê thuần × 10% × tỷ lệ giảm thuế × tỷ lệ ngày sử dụng. Tiền thuê thuần gồm tiền thuê theo doanh thu, khoản thu sửa chữa, bảo hiểm, bảo dưỡng và thuế bất động sản của chủ sở hữu; loại phí dịch vụ của chủ sở hữu như vệ sinh, xử lý rác, quảng bá và GST. Nếu chưa biết tiền thuê theo doanh thu tại thời hạn tính, dùng số đã xác định của tháng trước. Khi tổng lũy kế đạt trần khoản giảm của bất động sản, chia số còn lại theo tỷ lệ của các người thuê trong tháng đó.
Phương án 2B cho một phần bất động sản và giới hạn
Với phần được giảm 100% hoặc 60%, phải chuyển ít nhất 1.2 lần tiền thuê thuần bình quân tháng; phần được giảm 30% là 0.36 lần. Người nhận là người thuê ngày 3 tháng 4 hoặc người thuê đủ điều kiện đầu tiên đến ngày 31 tháng 7; nếu không có thì dùng 1B. Tiền thuê bình quân dựa trên các tháng thuê liên quan trước khi bắt đầu chuyển lợi ích, quy đổi thích hợp cho thời gian ngắn. Năm tháng trong nguồn có S$1,000 / 1,200 / 1,000 / 800 / 500, bình quân S$900, lợi ích S$1,080. Nếu tổng tính vượt khoản giảm của bất động sản, phân bổ theo tỷ trọng số đã tính: S$3,000 và S$2,500 so với trần S$5,000 cho kết quả S$2,727.27 và S$2,272.73.
Người thuê đã rời đi và khoản tăng về sau
Trong 1A/1B, phần của người thuê được chỉ định đã rời đi từ ngày 1 tháng 1 nhưng trước ngày 3 tháng 4 được chia lại theo số ngày thuê của người thuê đủ điều kiện từ ngày 3 tháng 4 đến ngày 30 tháng 6. Ví dụ S$9,000 cả năm chia S$2,250 cho B và C theo tỷ lệ 47:11, được S$1,823.28 và S$426.72; người thuê mới tháng 11 không được chia phần này. Bất kỳ khoản tăng dương nào của khoản giảm về sau vẫn phải được chuyển, bất kể phương án hay việc đã trả hết số cũ.
Cách trả, thời hạn và thỏa thuận cũ
Có thể trả tiền mặt hoặc bù tiền thuê đến hạn từ ngày 3 tháng 4 trở đi, không gồm nợ tiền thuê quá hạn, và trả một lần hoặc nhiều kỳ. Với 1A/1B, nếu thông báo trước ngày 1 tháng 6: phần nửa đầu năm phải trả chậm nhất ngày 31 tháng 7, phần nửa cuối năm chậm nhất ngày 31 tháng 12; thông báo từ ngày 1 tháng 6 đến trước ngày 1 tháng 11: phần nửa đầu năm trong 60 ngày, phần nửa cuối năm chậm nhất ngày 31 tháng 12; thông báo từ ngày 1 tháng 11: cả hai phần trong 60 ngày. Với 2A/2B và số chia lại từ người thuê đã rời đi: thông báo trước ngày 1 tháng 6 thì hạn là ngày 31 tháng 7, sau đó là 60 ngày. Nếu thống nhất trả góp, thỏa thuận và kỳ đầu đúng hạn thì các kỳ còn lại có thể trả sau. Lợi ích đã chuyển hoặc thỏa thuận trước ngày 3 tháng 4 được công nhận riêng, nhưng số dư dương chưa chuyển vẫn phải trả. Đây đều là thời hạn lịch sử.
Thông tin, hồ sơ và tranh chấp
Không được gắn việc chuyển lợi ích với điều kiện thuê mới bất lợi; điều kiện đó vô hiệu, trừ các thỏa thuận trước ngày 3 tháng 4 được nêu. Phải cung cấp số tiền, cách trả, thời gian và phương án theo quy định; khi được yêu cầu phải cung cấp thông báo, thông tin đã trả trước, đồng thời công bố khoản trợ cấp tiền mặt và miễn tiền thuê áp dụng. Không cung cấp thông tin phù hợp có thể bị phạt tối đa S$1,000 khi bị kết tội; không có lý do hợp lý mà không chuyển lợi ích hoặc không giữ hồ sơ có thể bị phạt tối đa S$5,000 khi bị kết tội. Hồ sơ phải giữ đến ngày 31 tháng 12 năm 2023. Đơn đến hội đồng giải quyết nhìn chung có hạn ngày 31 tháng 12 năm 2021; một số thông báo năm 2021 có gia hạn. Vấn đề pháp luật hoặc kết hợp pháp luật và sự kiện có thể được kháng cáo lên Tòa Thượng thẩm trong 21 ngày. Không được viết thời hạn đã qua thành cửa sổ nộp đơn mới.
Phụ lục C đến F: kiểm tra số liệu
Trong Phụ lục C, cửa hàng có giá trị hằng năm S$90,000 tiết kiệm S$9,000 và thuế bằng không. Khách sạn có giá trị hằng năm S$4,000,000 được giảm S$387,400, còn thuế S$12,600, vì văn phòng dịch vụ có giá trị hằng năm S$180,000 chỉ được giảm 30%. Nhà máy có giá trị hằng năm S$36,000 tiết kiệm S$1,080. Bãi xe có giá trị hằng năm S$648,000 được phân bổ 60% cho bán lẻ và 40% cho văn phòng, có khoản giảm S$46,656 và thuế S$18,144. Phụ lục D đến F giải thích GIRO và tính lại các kỳ; không được áp dụng mức mới sau thay đổi tháng 7 cho cả năm.
Phụ lục G: ví dụ thay đổi của toàn bộ bất động sản
Khoản giảm ban đầu S$9,000 thay đổi ngày 15 tháng 5 và ngày 25 tháng 10, cuối cùng là S$9,479.84, gồm ba giai đoạn S$3,338.71, S$4,657.26 và S$1,483.87. Người thuê cả năm nhận toàn bộ số mới; A thuê tháng 1 đến tháng 5 nhận S$3,818.55, B thuê tháng 6 đến tháng 12 nhận S$5,661.29; người bắt đầu thuê ngày 1 tháng 4 nhận S$7,229.84. Khi A thuê đến tháng 6 và B bắt đầu ngày 30 tháng 8, các số lần lượt là S$4,693.55 và S$3,092.74. Kết quả cho thấy khoảng trống không có người thuê và ngày thay đổi chính xác ảnh hưởng đến phân bổ.
Phụ lục H: ví dụ nhiều người thuê
Trong ví dụ khoản giảm S$32,000 của bất động sản, tính từng tháng theo 1B cho A S$9,600, B1 S$1,388.71, B2 S$1,800 và C2 S$5,280.65, gồm S$1,100 của C1 đã rời đi, tổng S$18,069.36. Theo 2B, A nhận S$9,600, B1 S$4,200 và C2 S$7,200, tổng S$21,000. Trong ví dụ tiền thuê theo doanh thu, B nhận S$2,795.33 theo 1B và S$3,639.99 theo 2B. Với trần S$8,500, theo 1B, A/B nhận S$5,227.27/S$3,272.73; theo 2B là S$5,312.50/S$3,187.50. Khi khoản giảm về sau tăng từ S$12,000 lên S$13,200, cả hai phương án đều phải trả thêm S$685.72 và S$514.28; sau thông báo ngày 1 tháng 12, phải trả chậm nhất ngày 30 tháng 1 năm 2021.
Quan hệ với khung giảm tiền thuê
Khung có hiệu lực ngày 31 tháng 7 năm 2020 áp dụng cho người thuê cuối cùng là SME/NPO đủ điều kiện, gồm người thuê lại liên quan. Hỗ trợ tiền mặt hoặc giảm tiền thuê trước đó có thể được bù vào khoản miễn tiền thuê bắt buộc. Nếu miễn tiền thuê bắt buộc đã bao phủ khoản giảm thuế phải chuyển thì nghĩa vụ đã hoàn thành; nếu chưa thì phải trả phần thiếu. Phụ lục I dùng tiền thuê được miễn trước hết bù phần nửa đầu năm chưa chuyển, rồi bù nửa cuối năm; phần miễn còn thừa được chia cho người thuê còn có quyền nhận khoản giảm. Được thu hồi phần khoản giảm nửa cuối năm đã trả thừa sau khi miễn tiền thuê. Muốn gia hạn phải nhận thông báo trợ cấp tiền mặt hoặc nộp yêu cầu trước hạn ban đầu; thực hiện sau hạn không được gia hạn theo quy tắc này.
Phụ lục I: ba ví dụ miễn tiền thuê và gia hạn
Cả ba ví dụ đều có giá trị hằng năm S$24,000, khoản giảm thuế S$2,400 và trợ cấp Chính phủ S$1,600. Ví dụ 1: sau khi A được miễn tiền thuê S$500, còn khoản giảm phải chuyển S$300; B được miễn S$1,500 nên không còn khoản giảm phải chuyển; C nhận S$100; tổng miễn tiền thuê và khoản giảm là S$2,400. Ví dụ 2: miễn S$1,000 bù phần S$800 của A, S$200 còn lại chia theo số ngày còn lại; lợi ích tháng 7 của B giảm còn S$167, lợi ích tháng 8 đến tháng 12 của C còn S$833. Ví dụ 3: sau tổng miễn tiền thuê S$2,200, B còn S$152.46 và C còn S$47.54, chia theo số ngày tháng 9 đến tháng 12 sau khi phần miễn tiền thuê riêng của B đã dùng hết. Với yêu cầu trợ cấp đúng hạn, tùy trường hợp hạn được kéo dài đến 60 ngày sau ngày bị từ chối, ngày cuối được nộp đơn xin Assessor quyết định hoặc ngày Assessor ra quyết định; phần nửa cuối năm giữ ngày 31 tháng 12 nếu đó là hạn muộn hơn áp dụng.
Tra cứu tài liệu lịch sử và tham chiếu chính thức
Bài viết dựa trên chính sách và ví dụ lịch sử, gồm các hạn khai, giữ hồ sơ và tranh chấp đã kết thúc. Ấn bản thứ sáu giữ lịch sử sửa đổi tháng 4, tháng 5 và tháng 12 năm 2020, gồm quan hệ với việc miễn tiền thuê về sau; đây là lịch sử cơ chế, không phải lời mời nộp đơn mới. Có thể kiểm tra công thức pháp lý chi tiết và thông báo trong bản gốc chính thức; khi cần hỏi, dùng Contact Us để liên hệ bộ phận thuế bất động sản IRAS.
Nguồn chính thức
Bản dịch tiếng Việt giữ đầy đủ nội dung bài viết tiếng Trung, gồm điều kiện, các bước và phụ lục trong phạm vi bài viết; thông tin thực chất đã được đối chiếu với PDF chính thức. Liên kết bản gốc dùng để kiểm tra cách diễn đạt chính thức; cần phân biệt ngày tài liệu và sửa đổi về sau.
Xem PDF gốc chính thức ↗