Phạm vi phần A tháng 6 năm 2026
Mô-đun bốn phần A bản thứ hai có 39 trang, giới thiệu ETR và số bổ sung địa bàn. Mục lục toàn mô-đun còn liệt kê SBIE, phân bổ số bổ sung, loại trừ không trọng yếu và áp dụng DTT, nhưng không giảng đầy đủ các chủ đề sau ấy trong phần A. ETR tính từng niên độ, biểu thị phần trăm làm tròn bốn chữ số thập phân, dựa thuế thuộc phạm vi đã điều chỉnh và thu nhập GloBE, không dùng trực tiếp thuế suất luật định của công ty.
Thứ tự tính
Trước tiên xác định ETR địa bàn, lấy thuế suất tối thiểu 15% trừ ETR để có tỷ lệ bổ sung rồi nhân lợi nhuận vượt mức sau SBIE. Sau đó cộng số bổ sung hiện hành thêm và trừ QDMTT đủ điều kiện. Tổng quan phân số này theo tỷ lệ cho thực thể có thu nhập GloBE dương; quy tắc phân bổ chi tiết ở phần sau. Trình tự tách thiếu thuế suất thông thường năm hiện tại khỏi số tính lại của năm trước.
Nhiều ETR trong một địa bàn
Phải tính ETR riêng cho CE thông thường; IE hoặc IIE; từng MOCE không thuộc nhóm con sở hữu thiểu số hoặc từng nhóm con ấy; từng thực thể không thuộc địa bàn nào; và từng liên doanh độc lập hoặc nhóm liên doanh. Thực thể đặc biệt gồm đầu tư, đầu tư bảo hiểm, sở hữu thiểu số, không thuộc địa bàn nào, cùng liên doanh liên quan nhưng không là thành viên nhóm. Vì thế một quốc gia có thể cần nhiều bộ tính riêng, không gộp mọi thực thể thành một ETR.
Phân số của thực thể thông thường và đặc biệt
ETR của CE thông thường bằng tổng thuế thuộc phạm vi đã điều chỉnh, gồm số âm, chia tổng thu nhập hoặc lỗ GloBE rồi nhân 100%. MOCE hoặc nhóm con, liên doanh độc lập hoặc nhóm liên doanh, và thực thể không thuộc địa bàn nào cũng dùng cách này nhưng chỉ lấy nhóm đang được kiểm riêng. Phương pháp IE và IIE để mô-đun tám giải thích. Tử và mẫu phải thuộc cùng nhóm kiểm.
Trường hợp dương, âm và không
Nếu thuế và thu nhập đều dương, dùng phân số thông thường; ETR từ 15% trở lên không có tỷ lệ bổ sung, dưới 15% thì có phần chênh. Khi thuế thuộc phạm vi âm nhưng thu nhập dương, coi ETR bằng không và điều chỉnh chuyển tiếp thuế âm. Nếu thu nhập bằng không hoặc âm, dù thuế dương, âm hay không, coi ETR là 15% nhưng vẫn có thể phát sinh số bổ sung hiện hành thêm. Vì vậy lỗ không tự loại mọi thuế bổ sung.
Sàn bằng không cho tỷ lệ bổ sung và lợi nhuận vượt mức
Tỷ lệ bổ sung bằng 15% trừ ETR liên quan, nếu kết quả không lớn hơn không thì bằng không. Lợi nhuận vượt mức bằng tổng thu nhập hoặc lỗ GloBE trừ SBIE và cũng có sàn bằng không. Số bổ sung địa bàn bằng tỷ lệ nhân lợi nhuận vượt mức, cộng số bổ sung hiện hành thêm rồi trừ QDMTT đánh lên thực thể và niên độ liên quan. Tỷ lệ hoặc lợi nhuận vượt mức bằng không không tự xóa khoản bổ sung thêm được cộng độc lập.
Chênh lệch vĩnh viễn trong năm lỗ
Theo hình gốc ở trang vật lý 24, điều 21(1) yêu cầu tổng thu nhập hoặc lỗ GloBE A bằng không hoặc âm, thuế thuộc phạm vi đã điều chỉnh B âm và B thấp hơn thuế dự kiến A × 15%. Số bổ sung hiện hành thêm = A × 15% − B. Cơ chế nhắm chênh lệch vĩnh viễn giữa thu nhập chịu thuế địa phương và thu nhập/lỗ GloBE trong bối cảnh lỗ, không phải chênh lệch thuế suất 15% thông thường trên lợi nhuận vượt mức dương. Lớp trích xuất chữ làm mất dấu bằng trong ≤ ở trang này, khiến bản tiếng Trung trước đó ghi hẹp thành A âm; bản dịch sửa theo dấu trên hình gốc.
Ví dụ hai thực thể bị lỗ
Tại địa bàn thuế suất 15%, CE1 được khấu trừ tăng thêm nên có lỗ GloBE 500, chi phí thuế âm 150; CE2 có thu nhập 100, thuế 15. Tổng lỗ 400 và thuế thuộc phạm vi âm 135, thuế dự kiến âm 60. Số bổ sung hiện hành thêm bằng âm 60 trừ âm 135, tức 75. Ví dụ cho thấy tổng thể lỗ GloBE vẫn có thể tạo thuế bổ sung.
Năm tác nhân tính lại năm trước
Điều 21(4) bao phủ lựa chọn tài sản hữu hình địa phương theo quy định 32, truy thu nợ thuế hoãn lại theo 46, điều chỉnh sau khai theo 40(2), thuế hiện hành chưa trả theo 40(8) và truy thu thuế phân phối được coi là phát sinh theo 48. Tính lại thu nhập và thuế thuộc phạm vi của năm cũ liên quan tùy tác động, rồi ETR và số bổ sung. Số hiện hành thêm bằng số bổ sung năm cũ đã tính lại C trừ số ban đầu D.
Ví dụ hoàn thuế năm bốn
Ví dụ năm một thu nhập 100, thuế 15, ETR 15% nên không có thuế bổ sung. Đánh giá lại năm bốn giảm thu nhập chịu thuế năm một về không và hoàn thuế 15; thu nhập GloBE năm một vẫn 100 nhưng thuế thuộc phạm vi về không, số bổ sung tính lại là 15. Năm bốn tự có thu nhập 80, thuế 12, ETR vẫn 15%, nhưng phải ghi số bổ sung hiện hành thêm 15 vì sửa năm cũ.
Số thuế bổ sung nội địa được trừ
Trừ QDMTT do luật địa bàn đánh lên thực thể và niên độ liên quan, gồm QDMTT hoặc DTT của thực thể không thuộc địa bàn nào. Loại số bị tranh chấp trong thủ tục tư pháp/hành chính, hoặc không thể đánh hay thu vì hiến pháp, lý do tương tự hay thỏa thuận chính phủ giới hạn trách nhiệm thuế. Số từng bị loại về sau xác định phải trả cho năm ấy được tính lại. Không chỉ dựa tên thuế để kết luận được trừ.
Ví dụ địa bàn thuế suất 5%
UPE Singapore có CE tại địa bàn A có thuế suất doanh nghiệp 5%. Thu nhập GloBE 100, thuế thuộc phạm vi đã điều chỉnh 5, ETR 5%; địa phương đánh QDMTT 10. Giả định không có số bổ sung hiện hành thêm và lợi nhuận vượt mức 100, MTT = (15% − 5%) × 100 = 10, trừ QDMTT 10 còn không. Đây là ví dụ tính thực tế, khác lựa chọn cơ chế an toàn.
Mục đích chuyển tiếp thuế âm
Tương tác chênh lệch vĩnh viễn và kế toán thuế hoãn lại có thể tạo ETR âm, tỷ lệ bổ sung trên 15% hoặc thuế trong năm lỗ GloBE. Chuyển tiếp thuế âm (NTCF) hoãn nghĩa vụ trong hai trường hợp: thu nhập dương nhưng ETR âm, và số thêm theo điều 21(1) trong năm lỗ có lựa chọn. Cơ chế chuyển tác động sang năm có lãi sau, không miễn thuế vĩnh viễn.
Tự động khi thu nhập dương và lựa chọn trong năm lỗ
Khi tổng thuế thuộc phạm vi âm và tổng thu nhập GloBE dương, số thuế âm trở thành NTCF và ETR coi bằng không. Trường hợp lựa chọn yêu cầu B âm, A bằng không hoặc âm và B < A × 15%; số bổ sung hiện hành thêm chuyển thành NTCF, trừ số quy cho chuyển lỗ về trước. Hình gốc trang 24 và 33 đều dùng A ≤ 0. Bản tiếng Trung từng coi hai trang khác nhau do lớp trích xuất trang 24 mất dấu bằng; đã kiểm hình và sửa nhận định đó, không giữ một mâu thuẫn không tồn tại trên hình.
Sử dụng số dư vào năm có lãi sau
Trong năm sau khi tổng thu nhập GloBE dương và tổng thuế thuộc phạm vi đã điều chỉnh dương, dùng NTCF giảm số thuế ấy. Việc này hạ ETR địa bàn về sau và có thể tạo thuế bổ sung năm đó. Cần theo dõi tăng, sử dụng và số dư; không chỉ vì năm lỗ hoặc một khoản thuế hoãn lại hoàn nhập mà dùng số dư, bỏ qua điều kiện năm có lãi quy định.
Ví dụ một: thu nhập dương nhưng lỗ tính thuế
Năm một có thu nhập GloBE 100, sau khấu trừ tăng thêm có lỗ tính thuế 300, ghi DTA 45 theo 15%. Không có NTCF thì ETR âm 45%, tỷ lệ bổ sung 60%. Dùng NTCF, ETR không, tỷ lệ 15%, thuế bổ sung 15, số dư 45. Năm hai thu nhập GloBE 300, dùng lỗ tính thuế khiến thu nhập chịu thuế không, thuế thuộc phạm vi 45. Trừ NTCF 45, ETR không, thuế bổ sung 45 và số dư dùng hết.
Ví dụ hai: lỗ GloBE và lựa chọn
Năm một lỗ GloBE 100, lỗ tính thuế 300, DTA và thuế thuộc phạm vi âm 45. Thuế dự kiến âm 15, tạo số bổ sung hiện hành thêm 30. Chọn chuyển 30 sang NTCF thì ETR năm một coi là 15%, thuế bổ sung không. Năm hai thu nhập 300, thuế thuộc phạm vi 45 vốn cho ETR 15%; trừ NTCF 30 còn thuế 15, ETR 5%, tỷ lệ bổ sung 10%, thuế bổ sung 30 và số dư NTCF về không.
Nguồn chính thức
Bản dịch tiếng Việt giữ đầy đủ nội dung bài viết tiếng Trung, gồm mọi điều kiện, bước, bảng và phụ lục trong phạm vi bài; các thông tin thực chất được đối chiếu PDF chính thức bằng tiếng Anh. Đây không phải bản dịch nguyên văn toàn bộ mọi tài liệu được liên kết. Xem bản gốc để kiểm cách diễn đạt, ngày và cập nhật về sau.
Xem PDF gốc chính thức ↗