Quản lý quỹ không tự động là dịch vụ tài chính miễn GST
Tệp thực tải là ấn bản thứ năm ngày 30 tháng 1 năm 2026; dù URL chứa ngày cũ, phải theo phiên bản thực tế. Tài liệu có 37 trang, chín mục và hai phụ lục. Nghiên cứu, tư vấn đầu tư và báo cáo thường là dịch vụ quản lý quỹ chịu thuế. Miễn GST cho dịch vụ tài chính thường không mở rộng tới thu xếp, môi giới, bảo lãnh phát hành hoặc tư vấn giao dịch; tài liệu nêu riêng ngoại lệ tái bảo hiểm.
Nhà quản lý giao dịch tên mình, nhận quyền sở hữu hoặc chịu rủi ro/lợi ích đầu tư có thể tạo nguồn cung cấp tài chính miễn GST với tư cách bên giao dịch cho chính mình; phải tách hoạt động đó khỏi phí quản lý. Xét hợp đồng ủy nhiệm, văn kiện tín thác, sở hữu và phân bổ rủi ro; không miễn toàn bộ doanh thu chỉ vì doanh nghiệp mang tên quản lý quỹ.
Bên hợp đồng, người hưởng lợi trực tiếp và thuế suất 0%
Nhà quản lý có thể ký trực tiếp với khách, hoặc phục vụ nhà quản lý nước ngoài vốn có hợp đồng ủy nhiệm đầu tư với khách. Bên hợp đồng thuộc Singapore thường chịu thuế suất thông thường. Để đạt 0% theo Điều 21(3)(j), phải ký với người thuộc nước ngoài, và trực tiếp mang lợi ích cho người thuộc nước ngoài đang ở ngoài Singapore khi thực hiện dịch vụ; từ ngày 1 tháng 1 năm 2020 cũng có thể là người thuộc Singapore đã đăng ký GST. Dịch vụ còn phải không trực tiếp liên quan đất/hàng tại Singapore và không thuộc nguồn cung cấp quyền quảng cáo bị loại trừ.
Kiểm tra cả bên hợp đồng và người hưởng lợi trực tiếp. Câu khái quát cũ trong phần môi giới rằng “cả nhà quản lý và khách đều ở nước ngoài” phải đọc cùng chú thích cập nhật cho phép người hưởng lợi trực tiếp Singapore đăng ký GST; không dùng cách khái quát cũ xóa phần mở rộng luật định đó. Chỉ có địa chỉ lập hóa đơn nước ngoài chưa đủ mọi điều kiện.
Cá nhân, quỹ và nhà quản lý nước ngoài thuộc quốc gia nào
Cá nhân thuộc nơi thường trú trong thời gian cung cấp dịch vụ; quỹ tín thác thường theo bên nhận ủy thác. Quỹ khác và nhà quản lý nước ngoài xét cơ sở kinh doanh (BE) hoặc cơ sở cố định (FE): chỉ có cơ sở Singapore thì thuộc Singapore; có ở nhiều nước thì xác định cơ sở trực tiếp sử dụng dịch vụ nhất; chỉ khi toàn cầu không có loại cơ sở đó mới dùng nơi đăng ký/thành lập làm căn cứ dự phòng.
Quỹ hoàn toàn dựa vào nhà quản lý Singapore thì nhà quản lý có thể tạo BE cho quỹ: là nhà quản lý duy nhất ký hợp đồng với quỹ và chịu trách nhiệm tổng thể hoạt động thường ngày/chức năng cốt lõi. Nhà quản lý nước ngoài không có nhân viên/nguồn lực riêng và giao toàn bộ kinh doanh cho nhà quản lý Singapore cũng có thể có cơ sở Singapore như vậy. Nhà quản lý Singapore thuê ngoài một phần việc được giao không xóa trách nhiệm tổng thể.
Chức năng độc lập và họp hội đồng thường kỳ
Không coi hoàn toàn phụ thuộc khi quỹ có văn phòng hành chính/nhân viên riêng; chỉ thuê quản lý không có quyền tự quyết, phải được quỹ duyệt giao dịch; ký riêng nhiều nhà quản lý phụ trách phạm vi đầu tư khác nhau; hoặc trực tiếp thuê bên độc lập thực hiện chức năng kinh doanh không chịu nhà quản lý giám sát. Kiểm toán ngoài hay tư vấn không thường xuyên/một lần không phải chức năng kinh doanh độc lập này.
Họp hội đồng thường kỳ tại một địa điểm cố định Singapore có thể tạo FE. Thường kỳ là ít nhất bốn lần trong mười hai tháng; họp điện thoại/video chỉ được tính khi ít nhất hai thành viên có mặt trực tiếp tại cuộc họp. Các địa điểm khác nhau trong cùng một nước không cộng thành một địa điểm cố định. Khi hội đồng dùng tư vấn để quyết định đầu tư, cơ sở của hội đồng được coi trực tiếp dùng dịch vụ quản lý nhất. Văn phòng hành chính với nhân viên riêng tại Singapore cũng tạo FE.
Ví dụ quỹ nước ngoài và miễn giảm năm 2015
Ví dụ 2: quỹ hợp danh hữu hạn nước ngoài, bên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn nước ngoài giao toàn bộ vận hành/đầu tư cho nhà quản lý Singapore, nên quỹ thuộc Singapore qua nhà quản lý; nếu bên hợp danh tự vận hành thì chính họ tạo BE. Ví dụ 2A: nhà quản lý thuê ngoài một phần vẫn giữ tình trạng thuộc Singapore. Ví dụ 2B: quỹ trực tiếp thuê quản trị viên hoặc bên lưu ký độc lập, không báo cáo/chịu giám sát của nhà quản lý; quỹ nước ngoài trong ví dụ này có thể 0% khi đạt mọi điều kiện.
Trước ngày 1 tháng 4 năm 2015, hướng dẫn có ưu đãi cho quỹ/nhà quản lý đăng ký hoặc thành lập nước ngoài nhưng thuộc Singapore. Sau đó miễn giảm có điều kiện hơn: quỹ nước ngoài đủ điều kiện phải thuộc Singapore chỉ do hoàn toàn dựa vào nhà quản lý Singapore được chỉ định. Dịch vụ cho nhà quản lý nước ngoài phải liên quan quỹ nước ngoài đủ điều kiện, và quỹ thuộc nước ngoài hoặc chỉ thuộc Singapore do sự phụ thuộc nêu trên. Có cơ sở Singapore khác sẽ phá điều kiện “chỉ thông qua nhà quản lý”.
Quỹ đủ điều kiện, tự đánh giá và giao dịch đại lý
Nhà quản lý được chỉ định phải có giấy phép dịch vụ thị trường vốn hoặc được miễn giấy phép. Quỹ phải đạt điều kiện ưu đãi Điều 13D hoặc 13U vào ngày cuối năm tài chính trước; số điều cũ là 13CA và 13X. Quỹ lần đầu đủ điều kiện có thể dùng tuyên bố để tạm áp dụng miễn giảm từ ngày bắt đầu đạt toàn bộ điều kiện. Sau đó không đạt thì nhà cung cấp phải kê khai bổ sung GST đã thu thiếu. Chú thích về hợp danh thông thường cho phép coi quỹ đủ điều kiện nếu có bên hợp danh đủ; lịch sử sửa đổi còn nêu bên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn của quỹ hợp danh hữu hạn không cần tự đạt điều kiện 13U.
Miễn giảm được tự đánh giá. Nhà cung cấp có thể dựa trên tuyên bố nhưng vẫn chịu trách nhiệm phần thuế thu thiếu nếu tuyên bố sai. Dịch vụ được miễn giảm kê khai nguồn cung cấp 0%; toàn bộ hoặc phần lớn hoạt động chịu thuế có thuế suất 0% thì có thể xét xin miễn đăng ký GST riêng. Ví dụ 3, 3A, 3B dùng phí dịch vụ S$10.000 so sánh ưu đãi cũ với bố trí quỹ/nhà quản lý đủ điều kiện sau năm 2015. Chỉ làm đại lý bán chứng khoán của khách thì doanh thu miễn GST thuộc khách; nhà quản lý kê khai phí của mình, dù trả riêng hay trừ từ tiền bán.
Quỹ tín thác đơn vị, bên nhận ủy thác và các loại phí REIT
Ví dụ 4: văn kiện tín thác giao nhà quản lý quản lý đầu tư, bên nhận ủy thác giữ tài sản thay nhà đầu tư và giám sát tuân thủ. Dịch vụ quản lý cung cấp cho quỹ tín thác do bên nhận ủy thác đại diện, thường tính phí theo giá trị tài sản ròng. Quốc tịch nhà đầu tư hoặc nơi đăng ký quỹ không thay việc phân tích bên nhận ủy thác thuộc quốc gia nào.
Nhà quản lý REIT cung cấp quản lý đầu tư/tư vấn hiệu quả định kỳ cho danh mục bất động sản, không bảo trì vật chất hay quản lý cho thuê, thì không được coi trực tiếp liên quan đất. Phí chỉ nhận khi mua/bán thành công một bất động sản cụ thể lại trực tiếp liên quan đất. Phân biệt đó không mở rộng tới mua bán cổ phần công ty nắm bất động sản. Tách trách nhiệm bảo trì của bên quản lý bất động sản với tư vấn đầu tư của nhà quản lý REIT.
Bán đơn vị cho chính mình hay làm đại lý và phí đầu vào
Nhà quản lý giữ đơn vị tên mình trong manager’s box và chịu rủi ro/lợi ích thì giao dịch cho chính mình. Tiền bán đơn vị gồm phí đầu vào kê khai nguồn cung cấp miễn GST. Ví dụ 5: đơn vị S$10.000 cộng phí 5% thì nguồn cung cấp miễn GST là S$10.500.
Không giữ đơn vị như vậy và văn kiện không nêu rõ nhà quản lý giao dịch cho chính mình thì bên nhận ủy thác bán đơn vị, còn phí thu xếp của nhà quản lý chịu thuế. Ví dụ 6: đơn vị S$10.000 và phí chịu thuế S$500; nhà quản lý làm đại lý không kê khai doanh thu bán đơn vị. Thuế suất phí đầu vào xét người nắm giữ thuộc quốc gia nào. Qua nhà phân phối mà không biết nhà đầu tư cuối, hướng dẫn cho dùng địa chỉ thư của người nắm giữ đã đăng ký làm đại diện; thường lấy địa chỉ cuối kỳ hoặc địa chỉ đơn vị đăng ký cung cấp sớm hơn. Dùng cách đại diện thì áp dụng nhượng bộ hóa đơn/biên nhận liên quan.
Hủy, giao dịch CPF thất bại và phí bán lại
Bố trí hủy trong bảy ngày được mô tả hoàn phí đầu vào; nhà đầu tư chịu lỗ giá, còn tăng giá giữ trong quỹ. Nhà quản lý làm đại lý không có hệ quả GST của bán đơn vị do hủy. Nhà quản lý giao dịch cho chính mình được coi mua lại đơn vị rồi bán về quỹ để hủy, kê khai lần bán sau là miễn GST. Thu hồi lỗ giá từ nhà đầu tư rồi đưa lại quỹ không tạo nguồn cung cấp riêng cho nhà đầu tư.
Giao dịch thất bại do thiếu CPF khác: phát hành trước khi kiểm tra số dư CPF là nhà quản lý tự nhận rủi ro, không phải nhà đầu tư chọn hủy. Nhà quản lý giao dịch cho chính mình, kê khai lãi/lỗ ròng là nguồn cung cấp miễn GST theo ngoại lệ ngành riêng; bán đơn vị thông thường với tư cách bên giao dịch cho chính mình vẫn dùng tổng tiền bán. Phí thực hiện bán/đổi đơn vị (realization charge) để tạo thuận lợi cho nhà đầu tư là dịch vụ chịu thuế, thuế suất xét nơi thuộc về của nhà đầu tư theo quy định GST.
Hoa hồng phân phối và kê khai tổng giá trị
Nhà phân phối cung cấp cho nhà quản lý dịch vụ chịu thuế, bất kể nhà quản lý giao dịch cho chính mình hay làm đại lý. Thu hộ/khấu trừ không giảm giá trị hợp đồng. Ví dụ 7: nhà phân phối thu phí đầu vào S$500, giữ S$300 và chuyển S$200; nhà quản lý giao dịch cho chính mình kê khai bán miễn GST S$10.500, nhà phân phối kê khai dịch vụ chịu thuế S$300. Nhà quản lý không được khấu trừ đầu vào trực tiếp quy cho bán miễn GST.
Ví dụ 8 chia tiền giống trên nhưng nhà quản lý làm đại lý, phải kê khai toàn bộ phí đầu vào S$500 chịu thuế chứ không chỉ tiền chuyển S$200. Nhà phân phối kê khai S$300; nhà quản lý có thể khấu trừ đầu vào liên quan theo quy tắc. Nhà quản lý khác làm nhà phân phối cũng lập hóa đơn hoa hồng; bên thuê thuộc nước ngoài thì tiếp tục xét điều kiện 0%.
Ba ví dụ giảm phí theo hợp đồng khác nhau
Ví dụ 8A: đơn vị S$10.000, phí đầu vào ban đầu 3%=S$300. Nhà phân phối tự giảm cho nhà đầu tư 1%, chỉ thu S$200, nhưng không giảm phí dịch vụ theo hợp đồng với nhà quản lý. Phí đầu vào của nhà quản lý và nguồn cung cấp của nhà phân phối vẫn đều là S$300; giảm tiền thực thu không tự chứng minh một nguồn cung cấp theo hợp đồng được giảm giá.
Ví dụ 8B: nhà quản lý đồng ý giảm phí đầu vào còn S$200, hợp đồng phân phối cũng giảm hoa hồng tương ứng còn S$200; cả hai kê khai S$200 dù nhà phân phối giữ toàn bộ phí. Ví dụ 8C: phí đầu vào cũng S$200 nhưng hoa hồng phân phối cố định S$50, nên nhà quản lý kê khai S$200, nhà phân phối S$50; S$150 chuyển cho nhà quản lý không phải giá trị chịu thuế của họ. Khi hợp đồng cho phép giảm phí, hướng dẫn chấp nhận thông lệ ngành chấp thuận chung nêu trong tài liệu, nhưng vẫn phải xác định giảm giá ứng với từng quan hệ hợp đồng.
Hợp đồng môi giới và ví dụ 600/500
Nhà quản lý mở tài khoản giao dịch và ký thẳng với môi giới thì môi giới vẫn cung cấp dịch vụ cho nhà quản lý, dù biết họ đại diện khách; khách là người hưởng lợi trực tiếp. Thu hồi phí môi giới là nhà quản lý tạo dịch vụ riêng cho khách. Ví dụ 9: quản lý S$500 cộng môi giới S$100, theo các dữ kiện nội địa nêu trong ví dụ, nhà quản lý kê khai S$600; đầu vào liên quan phải đủ quy tắc khấu trừ.
Khách tự mở tài khoản và ký thẳng với môi giới thì dịch vụ cung cấp cho khách. Ví dụ 10: nhà quản lý chỉ kê khai phí quản lý S$500. Bố trí bảo mật hay nhà quản lý đưa lệnh giao dịch không thay phân tích hợp đồng.
Ưu đãi cổ phiếu nước ngoài cũ kết thúc năm 2023
Ưu đãi đại lý hành chính trước năm 2023 cho phép thu hồi phí môi giới giao dịch trên sàn nước ngoài nằm ngoài GST, với điều kiện không phát sinh GST và không cộng lãi. Lãi được trình bày riêng thì chỉ phần lãi chịu thuế, không tách thì cả hai phần chịu thuế; chi phí nước ngoài liên quan khác cũng theo ưu đãi. Hoàn phí từ môi giới nước ngoài do mang lại kinh doanh là đối giá dịch vụ 0%, như Ví dụ 11.
Từ ngày 1 tháng 1 năm 2023, ưu đãi cũ bị bỏ; xét quan hệ bên giao dịch cho chính mình/đại lý thực tế. Môi giới nội địa ký trực tiếp dịch vụ môi giới nước ngoài là bên giao dịch cho chính mình, thu hồi thường tạo dịch vụ chịu thuế của họ. Doanh nghiệp RC không áp dụng FITR/SITRF có thể không tính reverse charge cho dịch vụ nhập trực tiếp quy cho dịch vụ môi giới chịu thuế bán lại. Doanh nghiệp FITR hoặc SITRF thường phải tính RC cho phần nhập trong phạm vi và khấu trừ theo công thức. Không tiếp tục ưu đãi cũ chỉ vì cổ phiếu niêm yết ngoài Singapore.
Phụ lục B: trách nhiệm trả tiền quyết định thu hồi chi phí hay chi hộ
Tình huống A: môi giới/bên lưu ký nước ngoài có trách nhiệm trả phí sàn, thuế tem và thuế khác. Thu hồi từ môi giới nội địa là đối giá dịch vụ của họ; doanh nghiệp RC nội địa FITR/SITRF xử lý theo quy tắc áp dụng. Thu hồi tiếp từ khách là thu hồi chi phí dịch vụ môi giới/lưu ký chịu thuế. Thuế khấu trừ trực tiếp từ cổ tức khách được nhận diện riêng là thuế của chính khách; môi giới nội địa không tính RC hay thu GST tiếp đối với khoản đó.
Tình huống B: môi giới nội địa có nghĩa vụ trả tiền; bên nước ngoài trả thay là chi hộ, nhưng môi giới nội địa thu hồi tiếp từ khách vẫn là đối giá dịch vụ chịu thuế. Phí sàn phải xét có dịch vụ không; khoản thuần quản lý nhà nước có thể ngoài RC. Thuế tem của bên giao dịch cho chính mình không tính vào giá trị dịch vụ nhập theo quy tắc Phụ lục 3, nhưng thu hồi sau từ khách theo dịch vụ môi giới và chịu thuế. Thuế khác thường không phải nguồn cung cấp, nhưng GST/VAT đánh do cung cấp dịch vụ được tính vào giá trị nhập. Tình huống C: khách tự chịu trách nhiệm hợp đồng, môi giới nội địa chỉ trả thay, không tính RC của khoản chi hộ và thu hồi không chịu GST; khách là doanh nghiệp RC phải tự đánh giá. Không rõ trách nhiệm trả tiền, hướng dẫn cho phép thận trọng tính thuế trên phần thu hồi.
Điểm hoa hồng mềm và hai ví dụ mua sắm
Điểm hoa hồng mềm phát sinh do mang lại giao dịch môi giới, dùng cho hàng/dịch vụ liên quan đầu tư đủ điều kiện. Hướng dẫn liệt kê nghiên cứu, phân tích, thông tin thị trường, báo giá và phần cứng/phần mềm liên quan, không gồm du lịch, giải trí, lương, phí hội viên hay hoàn tiền mặt. Môi giới cung cấp trực tiếp cho nhà quản lý thì điểm thuộc giao dịch môi giới gốc; cấp điểm hoặc đổi điểm không tạo nguồn cung cấp riêng, không được giảm giá trị môi giới và thuế đầu ra gốc.
Ví dụ 12: nhà quản lý ký thẳng với nhà cung cấp thứ ba, môi giới trả thay; nhà quản lý được khấu trừ GST của nhà cung cấp theo quy tắc, môi giới chỉ là người thanh toán thứ ba nên không được khấu trừ đầu vào đó. Ví dụ 13: môi giới ký với nhà cung cấp mua hàng/dịch vụ để đổi điểm; môi giới được khấu trừ đầu vào mua sắm đủ điều kiện, không thu thuế lần nữa khi đổi; nhà quản lý khấu trừ GST đủ điều kiện của dịch vụ môi giới gốc. Phải xét quan hệ trả tiền và hóa đơn để biết ai phát sinh đầu vào.
Phụ lục A: ba mươi tình huống cơ sở
Phụ lục giả định không có cơ sở khác ngoài cơ sở liệt kê và không áp dụng quỹ tín thác. Không có văn phòng, cơ sở do hội đồng hay sự phụ thuộc hoàn toàn: hàng 1–2 theo đăng ký nước ngoài/Singapore để xác định 0%/thuế suất thông thường. Có phụ thuộc hoàn toàn: hàng 3 là quỹ nước ngoài được miễn giảm có điều kiện, hàng 4 quỹ nội địa chịu thuế suất thông thường. Chỉ có hội đồng nước ngoài, không văn phòng: hàng 5–6 là 0%. Thêm phụ thuộc hoàn toàn: hàng 7 quỹ nước ngoài được miễn giảm; hàng 8 quỹ nội địa tách quản lý do hội đồng nước ngoài dùng với dịch vụ nội địa khác. Hàng 9–12 có hội đồng Singapore khiến dịch vụ nêu trong bảng chịu thuế suất thông thường, bất kể đăng ký hay phụ thuộc.
Hàng 13–16 có văn phòng/nhân viên nước ngoài áp dụng 0%. Hàng 17–18: văn phòng nước ngoài cộng hội đồng Singapore thì quản lý dùng bởi hội đồng chịu thuế suất thông thường, dịch vụ khác 0%. Hàng 19–20: văn phòng Singapore không có hội đồng thì chịu thuế suất thông thường. Hàng 21–22: văn phòng Singapore cộng hội đồng nước ngoài thì tách quản lý của hội đồng nước ngoài với dịch vụ nội địa khác. Hàng 23–24: cả văn phòng và hội đồng tại Singapore thì thuế suất thông thường. Hàng 25–30: văn phòng ở hai nơi, hội đồng và nơi đăng ký khác nhau, phải xác định cơ sở trực tiếp dùng mỗi dịch vụ nhất; quản lý dùng bởi hội đồng theo cơ sở của hội đồng. Mọi kết luận 0% vẫn phải đạt Điều 21(3)(j); chú thích thuế suất thông thường giữ khả năng 0% riêng theo Điều 21(3)(e)/(f) khi trực tiếp liên quan đất/hàng ngoài Singapore.
Nguồn chính thức
Bản dịch tiếng Việt giữ đầy đủ nội dung bài viết tiếng Trung, gồm điều kiện, các bước và phụ lục trong phạm vi bài viết; thông tin thực chất đã được đối chiếu với PDF chính thức. Liên kết bản gốc dùng để kiểm tra cách diễn đạt chính thức; cần phân biệt ngày tài liệu và sửa đổi về sau.
Xem PDF gốc chính thức ↗